Biến chứng xẹp gãy đốt sống vì chủ quan với loãng xương
Theo cảnh báo của chuyên gia y tế, nhiều người chỉ phát hiện mình bị loãng xương sau một lần té nhẹ như gãy cổ xương đùi, gãy cổ tay, hoặc khi xuất hiện đau lưng, giảm chiều cao, gù lưng do xẹp đốt sống hay thậm chí gãy đốt sống.
"Sập" lưng vì loãng xương nặng
Các bác sĩ Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình vừa cứu chữa kịp thời cho một nữ bệnh nhân, 85 tuổi, bị loãng xương nặng, biến chứng gãy đốt sống. Theo người nhà kể lại, 4 ngày trước khi vào viện, cơn đau cột sống thắt lưng bắt đầu xuất hiện sau khi bà bê thau nước nặng. Lúc đầu, bà chỉ nghĩ đơn giản là bệnh của tuổi già, nhưng theo thời gian cơn đau ngày càng tăng.

Ca gãy đốt sống do loãng xương nặng được điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai.
Khi được đưa đến Bệnh viện Bạch Mai, các bác sĩ xác định bà bị gãy xẹp đốt sống do loãng xương nặng, đây là một biến chứng rất thường gặp ở người cao tuổi nhưng lại dễ bị bỏ qua.
Theo BS Ngọ Công Minh, Khoa Cơ xương khớp, Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình, loãng xương được ví như “kẻ giết người thầm lặng” bởi bệnh tiến triển âm thầm trong nhiều năm mà hầu như không có biểu hiện rõ ràng. Chỉ đến khi xảy ra gãy xương gây đau, giảm hoặc mất khả năng vận động của người bệnh thì bệnh mới được phát hiện, tuy nhiên, đã ở giai đoạn nặng.
Đáng lo ngại hơn, ở người cao tuổi, chỉ cần một động tác vận động nhẹ như cúi người, ho mạnh hoặc mang vật nhẹ cũng có thể khiến đốt sống bị gãy. Khi đó, người bệnh sẽ phải chịu những cơn đau dữ dội, mất khả năng vận động, phải nằm bất động trong thời gian dài. Việc phải nằm lâu, kéo dài có thể dẫn đến hàng loạt biến chứng nguy hiểm như viêm phổi, loét do tỳ đè, huyết khối tĩnh mạch, suy kiệt sức khỏe và làm giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống.
Còn theo BSCK II Lâm Nguyễn Thùy An, Bệnh viện ĐH Y dược TP.HCM, loãng xương là bệnh thường diễn tiến âm thầm trong nhiều năm, hầu như không gây triệu chứng rõ ràng cho đến khi xảy ra gãy xương. Nhiều người chỉ phát hiện mình bị loãng xương sau một lần té nhẹ như gãy cổ xương đùi, gãy cổ tay, hoặc khi xuất hiện đau lưng, giảm chiều cao, gù lưng do xẹp đốt sống. Vì vậy, phát hiện sớm và điều trị trước khi xảy ra gãy xương là mục tiêu quan trọng nhất.
Khi nào nên tầm soát loãng xương?
BS An chia sẻ, phụ nữ từ 65 tuổi nên được tầm soát loãng xương. Phụ nữ sau mãn kinh dưới 65 tuổi cũng nên được đánh giá nếu có các yếu tố nguy cơ. Nhiều hướng dẫn chuyên ngành cũng khuyến nghị đo mật độ xương ở nam giới từ 70 tuổi trở lên, hoặc từ 50 - 69 tuổi nếu có yếu tố nguy cơ.
Ngoài yếu tố tuổi, nên nghĩ đến việc đánh giá loãng xương sớm khi người bệnh đã từng gãy xương sau tuổi 50, đặc biệt sau té ngã hoặc chấn thương nhẹ; Có giảm chiều cao rõ, gù lưng hoặc đau lưng mới xuất hiện không rõ nguyên nhân; Có bệnh lý làm tăng nguy cơ mất xương; Đang hoặc chuẩn bị sử dụng corticoid kéo dài; hoặc đang điều trị loãng xương và cần theo dõi đáp ứng.
Cần làm gì để bảo vệ xương?
Mặc dù loãng xương là một trong những bệnh nguy hiểm, nhưng bệnh loãng xương lại hoàn toàn có thể phòng ngừa được nếu chúng ta chủ động phát hiện và điều trị từ sớm. Các chuyên gia Trung tâm Cơ xương khớp, Bệnh viện Bạch Mai khuyến nghị các biện pháp đơn giản, hiệu quả dự phòng loãng xương. Cụ thể như: Tắm nắng buổi sáng hoặc chiều muộn để tăng khả năng tổng hợp vitamin D tự nhiên của cơ thể.
Dinh dưỡng hợp lý: Ăn nhiều thực phẩm giàu canxi (sữa, tôm, cua, cá nhỏ có thể ăn cả xương, rau xanh) và bổ sung vitamin D khi cần thiết.
Tập thể dục đều đặn: Đi bộ, yoga, bài tập kháng lực khoảng 30 phút/ngày, ít nhất 5 ngày/tuần.
Bỏ những thói quen có hại như hút thuốc lá, uống nhiều rượu bia.
Đi kiểm tra mật độ xương định kỳ nếu thuộc nhóm nguy cơ.
Phòng ngã và chấn thương: Lắp tay vịn ở cầu thang, nhà vệ sinh, dùng giày dép chống trơn trượt, giữ nhà cửa sáng sủa và gọn gàng.
"Người đã bị loãng xương nặng hoặc từng gãy lún đốt sống cần được hướng dẫn riêng. Nên tránh các động tác gập hoặc xoắn cột sống quá mức, cúi gập sâu hoặc mang vác nặng không phù hợp. Mục tiêu không phải tập càng nhiều càng tốt mà là duy trì vận động đều đặn và an toàn", BS An cho hay.