Chính trị

Biến quyết sách thành hành động, kết quả là thước đo

-

Chỉ thời gian ngắn từ đầu nhiệm kỳ đến nay, lượng lớn văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, trong đó nhiều văn bản quan trọng liên quan đến đầu tư xây dựng, phát triển hạ tầng, cho thấy chủ trương nhanh chóng được thể chế hóa, đi vào cuộc sống.

Không để luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư

Một trong những điểm nghẽn tồn tại nhiều năm trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật là độ trễ từ chủ trương đến chính sách, từ luật đến nghị định, rồi từ nghị định đến thông tư. Luật đã có hiệu lực nhưng thiếu văn bản hướng dẫn. Nghị định được ban hành nhưng vẫn phải chờ thông tư.

Biến quyết sách thành hành động, kết quả là thước đo - Ảnh 1.

Chỉ trong thời gian ngắn, hàng loạt nghị định, thông tư liên quan lĩnh vực xây dựng được ban hành, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.

Một dự án chậm vài tháng có thể làm tăng chi phí vốn, đội chi phí đầu tư, lỡ cơ hội kinh doanh, kéo dài thời gian đưa tài sản vào khai thác. Với đầu tư công, chậm trễ còn làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực Nhà nước và tác động tới tăng trưởng.

Bởi vậy, những chuyển động mạnh mẽ trong công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế thời gian qua có ý nghĩa lớn hơn nhiều so với những con số thống kê đơn thuần.

Quá trình đẩy mạnh cắt giảm, phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính, 163 văn bản quy phạm pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung đồng bộ, trong đó có 155 nghị định. Đặc biệt, từ ngày 1/7/2026, có 29 luật và 50 nghị định đồng thời có hiệu lực; cùng đó là hàng chục thông tư của các bộ, ngành được triển khai trên nhiều lĩnh vực.

Đáng chú ý là khoảng cách giữa luật và văn bản hướng dẫn đang được rút ngắn đáng kể. Đây chính là một biểu hiện cụ thể của Chính phủ hành động: Không coi ban hành luật là điểm kết thúc, mà coi khả năng đưa luật vào cuộc sống mới là thước đo của chất lượng điều hành.

Trong nền kinh tế hiện nay, chậm thể chế cũng là một dạng lãng phí nguồn lực. Mỗi ngày thủ tục được rút ngắn là thêm một ngày vốn, đất đai và cơ hội đầu tư được đưa vào phát triển.

Phân cấp, phân quyền đi liền trách nhiệm

Cải cách thủ tục hành chính không chỉ là giảm một giấy phép hay bớt một chữ ký. Quan trọng hơn là chuyển từ quản lý bằng thủ tục sang quản trị bằng tiêu chuẩn, dữ liệu và trách nhiệm.

Dấu ấn của những tháng đầu nhiệm kỳ không chỉ là khối lượng lớn văn bản được ban hành và hoàn thiện trong thời gian ngắn. Quan trọng hơn là một thông điệp điều hành ngày càng rõ nét: Chủ trương phải được cụ thể hóa; quyết sách phải có người chịu trách nhiệm thực hiện; thể chế phải mở đường thay vì trở thành lực cản của phát triển.

Từ nghị quyết đến nghị định, từ nghị định đến công trường, từ chính sách đến từng dự án và cuộc sống của người dân - khoảng cách ấy càng ngắn thì năng lực quản trị quốc gia càng cao.

Tinh thần đó được thể hiện khá rõ trong quản lý đầu tư xây dựng - lĩnh vực có quan hệ trực tiếp với đầu tư công, đầu tư tư nhân, phát triển đô thị, nhà ở, bất động sản và hệ thống kết cấu hạ tầng quốc gia.

Cùng với Luật Xây dựng năm 2025 có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, một hệ thống nghị định hướng dẫn quan trọng đã được chuẩn bị và ban hành để triển khai ngay. Cùng với các nghị định là hệ thống thông tư hướng dẫn về chất lượng công trình, định mức xây dựng, chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật và nhiều vấn đề chuyên ngành khác.

Điểm đáng ghi nhận nằm ở phương thức chuẩn bị: Văn bản hướng dẫn được xây dựng song hành với luật, thay vì đợi luật có hiệu lực rồi mới bắt đầu hoàn thiện các quy định dưới luật.

Với ngành Xây dựng, thay đổi này có ý nghĩa đặc biệt. Quản lý chi phí đầu tư xây dựng liên quan trực tiếp đến tổng mức đầu tư, dự toán và hiệu quả sử dụng vốn. Quản lý chất lượng và bảo trì quyết định sự an toàn, tuổi thọ công trình. Quy định về hợp đồng tác động đến quan hệ giữa chủ đầu tư và nhà thầu. Quản lý vật liệu xây dựng ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành và chất lượng công trình.

Mỗi quy định nếu rõ hơn một bước có thể giúp hàng nghìn dự án giảm một bước vướng mắc. Đáng chú ý, quy định mới về quản lý hoạt động xây dựng tiếp tục thúc đẩy phân cấp, đưa một số thẩm quyền đến gần địa phương, người dân và doanh nghiệp hơn.

Đây không đơn thuần là chuyển việc từ cấp trên xuống cấp dưới. Vấn đề cốt lõi là quyền phải đi cùng trách nhiệm. Cấp nào gần công trình nhất, hiểu thực tế nhất thì cấp đó cần được trao đủ thẩm quyền để quyết định trong phạm vi được pháp luật quy định.

Trung ương tập trung xây dựng thể chế, tiêu chuẩn, kiểm tra và giám sát; địa phương chủ động tổ chức thực hiện. Cùng với phân cấp là chuyển đổi số. Việc xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng mở ra khả năng từng bước chuyển từ quản lý nặng về hồ sơ giấy sang quản trị dựa trên dữ liệu, minh bạch hóa năng lực của các chủ thể tham gia thị trường.

Thước đo cuối cùng là kết quả

Tốc độ ban hành văn bản nhanh là tín hiệu tích cực. Nhưng số lượng nghị định, thông tư chưa thể là đích đến cuối cùng. Một Chính phủ hành động phải được đo bằng những kết quả cụ thể: Bao nhiêu thủ tục thực sự được cắt giảm; thời gian xử lý hồ sơ giảm bao nhiêu; chi phí của doanh nghiệp giảm thế nào; bao nhiêu dự án được tháo gỡ; nguồn lực xã hội được đưa vào phát triển nhanh hơn ra sao.

Những kết quả bước đầu rất đáng chú ý. Theo Chính phủ, các nghị quyết về cắt giảm, phân cấp và đơn giản hóa thủ tục đã phân cấp 321 thủ tục hành chính, cắt giảm 697 thủ tục, đơn giản hóa 704 thủ tục, cắt giảm 1.754 điều kiện kinh doanh, với chi phí tuân thủ ước giảm khoảng 23.000 tỷ đồng mỗi năm. Đó mới là cách tiếp cận đúng đối với cải cách thể chế: Phải quy đổi cải cách thành thời gian, chi phí và cơ hội phát triển của người dân, doanh nghiệp.

Tuy nhiên, ban hành nhanh càng đòi hỏi chất lượng cao. Nếu quy định thiếu rõ ràng, chồng chéo hoặc năng lực thực thi ở cơ sở không theo kịp phân cấp, khoảng trống pháp lý có thể được thay bằng một điểm nghẽn mới: Khoảng trống thực thi.

Do đó, cần tiếp tục theo dõi việc thực hiện từng nghị định, thông tư; đo lường thời gian xử lý thủ tục trước và sau cải cách; tăng kết nối dữ liệu; công khai trách nhiệm và thường xuyên lấy phản hồi từ người dân, doanh nghiệp.

Trong lĩnh vực xây dựng, cải cách tuyệt đối không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý. Thủ tục phải giảm nhưng tiêu chuẩn an toàn không được giảm. Thời gian phải rút ngắn nhưng chất lượng công trình không được hạ thấp. Phân cấp mạnh nhưng phải đi cùng năng lực cán bộ, dữ liệu, kiểm tra và trách nhiệm giải trình.

Chính phủ hành động không đo bằng số văn bản đã ký, mà bằng số điểm nghẽn được tháo gỡ và nguồn lực được giải phóng cho phát triển.

ĐBQH Đỗ Chí Nghĩa:

Từ quản lý bằng quy trình sang quản trị vì kết quả

Biến quyết sách thành hành động, kết quả là thước đo - Ảnh 2.

Một trong những chuyển động đáng ghi nhận thời gian qua là tinh thần hành động ngày càng rõ hơn trong tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách.

Theo tôi, điều quan trọng không chỉ là một chủ trương được ban hành nhanh hay văn bản được hoàn thiện đúng tiến độ, mà sau đó chính sách có thực sự tạo ra chuyển biến trong thực tế hay không.

Tuy nhiên, khi văn bản đã được ban hành, điều cần quan tâm tiếp theo là sẽ tháo gỡ được những điểm nghẽn trong thực tế như thế nào. Đây mới là thước đo quan trọng. Nếu quy định đã có nhưng người dân vẫn phải đi lại nhiều lần, doanh nghiệp vẫn mất nhiều thời gian để hoàn tất thủ tục hoặc các địa phương còn cách hiểu khác nhau thì khoảng cách giữa chính sách và cuộc sống vẫn chưa được giải quyết.

Từ góc độ đó, tôi cho rằng cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý bằng quy trình sang quản trị vì kết quả. Một văn bản ban hành phải trả lời được những câu hỏi: Đã giải quyết được vấn đề gì? Giảm được bao nhiêu thời gian, chi phí cho người dân, doanh nghiệp? Tạo thêm điều kiện nào để nguồn lực xã hội được đưa vào sản xuất, kinh doanh?...

Lĩnh vực xây dựng cho thấy rất rõ yêu cầu này. Một dự án có thể liên quan đến quy hoạch, đất đai, đầu tư, xây dựng, nghiệm thu và đưa công trình vào sử dụng. Nếu trách nhiệm giữa các cơ quan không rõ hoặc việc thực hiện không thống nhất, chỉ một điểm nghẽn ở một khâu cũng có thể làm chậm cả quá trình. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật phải đi cùng với tổ chức thực hiện thống nhất, phân định rõ trách nhiệm và tạo thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp.

Cần đánh giá hiệu quả chính sách bằng những kết quả cụ thể và gần với đời sống: Người dân mất bao lâu để giải quyết một thủ tục? Doanh nghiệp giảm được bao nhiêu chi phí, một dự án được rút ngắn bao nhiêu thời gian? Những nguồn lực trước đây bị ách tắc đã được đưa vào sử dụng như thế nào?

Những câu hỏi đó mới cho thấy thực chất của cải cách. Từ góc độ Quốc hội, hoạt động giám sát cũng cần chú trọng hơn đến kết quả thực thi, không chỉ xem hệ thống văn bản đã đầy đủ hay chưa mà phải theo dõi chính sách khi xuống đến địa phương, đến cơ quan trực tiếp giải quyết công việc và đến người dân, doanh nghiệp có đạt đúng mục tiêu hay không.

Một quyết sách được chuyển thành hành động, hành động giải quyết được điểm nghẽn và kết quả cuối cùng tạo ra lợi ích thực tế cho người dân, doanh nghiệp - đó mới là một chu trình chính sách hoàn chỉnh. Khi những thay đổi đó được người dân và doanh nghiệp cảm nhận trong công việc, sản xuất, kinh doanh và đời sống hằng ngày, khi đó chủ trương mới thực sự đi vào cuộc sống.

ĐBQH Trần Thị Hải Hà:

Pháp luật càng rõ ràng càng dễ thực hiện

Biến quyết sách thành hành động, kết quả là thước đo - Ảnh 2.

Một đạo luật được Quốc hội thông qua mới tạo ra khuôn khổ pháp lý chung; để chính sách thực sự vận hành, cần có các quy định đủ rõ, cụ thể, đồng bộ và khả thi để cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp và người dân có thể thực hiện.

Thời gian qua, việc Chính phủ ban hành khối lượng lớn nghị định, cùng các thông tư của bộ, ngành có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 cho thấy quyết tâm rút ngắn khoảng cách giữa xây dựng chính sách và tổ chức thực hiện. Đây là điểm đáng ghi nhận, bởi khi văn bản được chuẩn bị kịp thời, cơ quan quản lý có căn cứ để thực thi, người dân và doanh nghiệp cũng chủ động hơn trong hoạt động của mình.

Tuy nhiên, từ góc độ cơ quan lập pháp, tôi cho rằng ban hành nhanh không đồng nghĩa với hạ thấp yêu cầu về chất lượng. Mỗi quy định được đưa ra cần trả lời rõ: Giải quyết vấn đề gì, có thực sự cần thiết không, có làm phát sinh thêm chi phí tuân thủ và trách nhiệm cho người thực hiện hay không?

Điều này đặc biệt quan trọng trong việc cắt giảm thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh. Tôi đã nêu tại phiên họp của Ủy ban Kinh tế và Tài chính, khi đề xuất cắt giảm một ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, hồ sơ cần làm rõ cơ sở đánh giá cho thấy ngành, nghề đó không còn cần thiết phải áp dụng cơ chế quản lý theo điều kiện quy định của Luật Đầu tư. Cắt giảm phải có căn cứ, đánh giá tác động và bảo đảm tính thuyết phục, chặt chẽ.

Theo tôi, đây cũng là yêu cầu đối với quá trình hoàn thiện thể chế hiện nay. Mục tiêu không phải là ban hành được bao nhiêu văn bản, mà là làm cho hệ thống pháp luật rõ ràng hơn, dễ thực hiện hơn và tạo thêm không gian phát triển. Một quy định tốt phải giúp người thực thi biết rõ mình được làm gì, phải làm gì và chịu trách nhiệm đến đâu; đồng thời giúp doanh nghiệp biết rõ quyền, nghĩa vụ để chủ động đầu tư, sản xuất, kinh doanh.

Với lĩnh vực xây dựng, yêu cầu này càng rõ bởi pháp luật liên quan trực tiếp đến đầu tư, hạ tầng, nhà ở, đất đai, quy hoạch và hoạt động của doanh nghiệp. Các quy định cần tạo được hành lang pháp lý thống nhất, hạn chế cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan, địa phương.

Một Chính phủ hành động cần được nhìn nhận không chỉ ở tốc độ ban hành chính sách, mà ở chất lượng và hiệu quả của quá trình đưa chính sách vào cuộc sống. Quyết sách phải kịp thời, văn bản phải khả thi, trách nhiệm phải rõ và Quốc hội cần tiếp tục giám sát để kịp thời nhận diện những quy định chưa phù hợp.

Đưa chủ trương vào cuộc sống vì thế không dừng ở việc ban hành văn bản, mà là cả một chuỗi từ quyết sách, pháp luật đến tổ chức thực hiện và kiểm tra kết quả. Khi chuỗi này vận hành thông suốt, chúng ta mới thực sự biến quyết sách thành hành động và tạo ra môi trường thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp phát triển.

Diên Dương - Vân Anh (ghi)