Xây dựng

BIM tạo nền tảng số cho các dự án đường sắt quy mô lớn

-

Ngày 9/9, tại Hà Nội, Viện Kinh tế xây dựng (Bộ Xây dựng) phối hợp với Đại sứ quán Vương quốc Anh tổ chức Hội thảo chuyên đề “Thúc đẩy phát triển hạ tầng đường sắt tại Việt Nam - Hội thảo BIM và Công nghệ số”.

Gỡ điểm nghẽn BIM cho công trình đường sắt

Hội thảo chuyên đề "Thúc đẩy phát triển hạ tầng đường sắt tại Việt Nam - Hội thảo BIM và Công nghệ số" diễn ra trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển hạ tầng giao thông với nhiều dự án đường sắt quy mô lớn, trọng tâm là mạng lưới đường sắt đô thị tại Hà Nội, TP.HCM và đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam. Quy mô đầu tư lớn, phạm vi liên vùng và yêu cầu kỹ thuật phức tạp đang đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản lý, triển khai dự án.

BIM tạo nền tảng số cho các dự án đường sắt quy mô lớn- Ảnh 1.

Ông Nguyễn Phạm Quang Tú, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế xây dựng (Bộ Xây dựng) phát biểu khai mạc Hội thảo.

Phát biểu khai mạc, ông Nguyễn Phạm Quang Tú, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế xây dựng cho rằng, từ góc độ kinh tế xây dựng và quản trị dự án, BIM và chuyển đổi số không chỉ dừng lại ở công cụ dựng hình 3D mà cần được nhìn nhận như một phương thức quản trị dữ liệu tích hợp xuyên suốt vòng đời công trình.

Theo đó, việc chuẩn hóa môi trường dữ liệu chung, ứng dụng bản sao số (Digital Twin), quản lý rủi ro địa kỹ thuật ngay từ khâu chuẩn bị đầu tư là những giải pháp quan trọng để minh bạch chi phí vòng đời, kiểm soát xung đột kỹ thuật và nâng cao hiệu quả đầu tư.

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Phạm Quang Tú, việc áp dụng BIM cho công trình đường sắt tại Việt Nam hiện còn hai điểm nghẽn đáng chú ý: chưa có hướng dẫn riêng cho công trình đường sắt và còn thiếu nguồn nhân lực kỹ thuật số chất lượng cao.

Nhằm từng bước tháo gỡ những điểm nghẽn này, với sự chấp thuận của lãnh đạo Bộ Xây dựng, Viện Kinh tế xây dựng đã phối hợp với Đại sứ quán Vương quốc Anh hình thành Trung tâm Chuyên môn (CoE) về BIM cho công trình đường sắt.

Theo Phó Viện trưởng Nguyễn Phạm Quang Tú, Trung tâm vận hành theo mô hình liên kết Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp, đóng vai trò là cơ chế phối hợp, kết nối và hỗ trợ nâng cao năng lực, không phải cơ quan quản lý hay đơn vị trực tiếp thực hiện dự án.

Trung tâm hướng tới vai trò đầu mối nghiên cứu, tham mưu Bộ Xây dựng xây dựng, công bố những hướng dẫn cần thiết cho việc áp dụng BIM đối với công trình đường sắt, bảo đảm phù hợp với pháp luật và thực tiễn Việt Nam.

Mạng lưới Học thuật quy tụ các trường đại học sẽ tập trung đào tạo nguồn nhân lực, chia sẻ tri thức, phát triển đội ngũ chuyên gia, giảng viên nòng cốt và xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Cùng với đó, sự tham gia của doanh nghiệp, ban quản lý dự án và các đối tác quốc tế sẽ góp phần đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, chuyển giao kinh nghiệm từ những dự án đường sắt lớn trên thế giới, thử nghiệm các giải pháp công nghệ tiên tiến nhằm tối ưu chi phí vòng đời và nâng cao hiệu quả quản lý tài sản đường sắt.

Trong khuôn khổ hội thảo, Mạng lưới Học thuật thuộc Trung tâm CoE chính thức được ra mắt, đánh dấu bước kết nối giữa nghiên cứu chính sách, đào tạo nguồn nhân lực và thực tiễn triển khai dự án.

Kinh nghiệm quốc tế cho chuyển đổi số lĩnh vực đường sắt Việt Nam

Phát biểu tại hội thảo, Đại sứ Vương quốc Anh và Bắc Ai-len tại Việt Nam Iain Frew nhận định, lĩnh vực giao thông vận tải Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng với những kế hoạch lớn về đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị.

Theo Đại sứ, để triển khai thành công các dự án hạ tầng quy mô lớn, Việt Nam không chỉ cần nguồn lực vật chất mà còn cần một nền tảng số vững chắc, nhằm bảo đảm công trình được đầu tư, xây dựng hiệu quả, an toàn và bền vững.

Từ kinh nghiệm của Vương quốc Anh, Đại sứ Iain Frew dẫn chứng dự án Crossrail cho thấy việc triển khai dự án trên nền tảng số và áp dụng các tiêu chuẩn BIM có vai trò quan trọng trong quản lý rủi ro, tiết giảm chi phí và bảo đảm hoạt động vận hành lâu dài.

BIM tạo nền tảng số cho các dự án đường sắt quy mô lớn- Ảnh 2.

Ông Malcolm Taylor, Cố vấn chuyên gia về Chuyển đổi số, Crossrail International chia sẻ kinh nghiệm đưa BIM và công nghệ số vào các dự án đường sắt quy mô lớn, gợi mở bài học cho Việt Nam.

Trong hai năm qua, các chuyên gia Crossrail International, với sự hỗ trợ của Chương trình Hạ tầng, Thành phố Xanh và Năng lượng của Vương quốc Anh, đã phối hợp với Bộ Xây dựng và các Ban quản lý dự án đường sắt tại Hà Nội, TP.HCM, hỗ trợ nghiên cứu những hướng dẫn BIM phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đồng thời góp phần đặt nền móng cho Trung tâm CoE.

Đại sứ Iain Frew đánh giá việc ra mắt Mạng lưới Học thuật của CoE tiếp tục mở rộng mô hình kết nối giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo, nghiên cứu và doanh nghiệp.

Theo đó, cơ quan quản lý Nhà nước tạo lập khuôn khổ, tiêu chuẩn và định hướng dài hạn; doanh nghiệp cung cấp công nghệ, công cụ số và kinh nghiệm triển khai thực tế; các trường đại học, viện nghiên cứu đảm nhiệm nghiên cứu và đào tạo đội ngũ kỹ sư số đáp ứng yêu cầu của những hệ thống hạ tầng ngày càng phức tạp.

Đại sứ Iain Frew khẳng định Chính phủ Anh mong muốn tiếp tục đồng hành cùng Bộ Xây dựng và các đối tác trong quá trình phát triển hạ tầng giao thông Việt Nam theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững.

BIM phải đi cùng toàn bộ vòng đời dự án đường sắt

Chia sẻ kinh nghiệm từ Crossrail, ông Malcolm Taylor, Cố vấn chuyên gia về Chuyển đổi số, Crossrail International cho rằng, BIM và công nghệ số sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc đưa những quy hoạch đường sắt lớn của Việt Nam từ tầm nhìn thành hiện thực.

Theo ông, BIM không đơn thuần là mô hình 3D mà phải trở thành phương thức quản lý thông tin xuyên suốt vòng đời công trình. Với đường sắt, quá trình quy hoạch, thiết kế có thể kéo dài 5 - 10 năm nhưng thời gian vận hành có thể tới 100 năm. Đáng chú ý, khoảng 70% thông tin cần cho bảo trì đường sắt được hình thành ngay trong giai đoạn thiết kế và xây dựng.

BIM tạo nền tảng số cho các dự án đường sắt quy mô lớn- Ảnh 3.

Ban tổ chức vinh danh các đối tác, lãnh đạo trường đại học và chuyên gia đồng hành thúc đẩy ứng dụng BIM, công nghệ số trong phát triển hạ tầng đường sắt Việt Nam.

Kinh nghiệm Crossrail cho thấy, hiệu quả rõ nét của công nghệ số. Khi triển khai khoảng 250.000 vị trí khoan trong đường hầm để lắp đặt thiết bị, dữ liệu khảo sát 3D kết hợp BIM và thiết bị chuyên dụng đã giúp tăng năng suất thi công khoảng 5 lần so với phương pháp truyền thống.

Ở giai đoạn vận hành, Digital Twin có thể hỗ trợ quản lý, bảo trì hiệu quả hơn, qua đó giảm khoảng 15 - 20% chi phí bảo trì. Với vòng đời đường sắt kéo dài hàng chục năm, đây là giá trị kinh tế đáng kể.

Ông Malcolm Taylor đặc biệt lưu ý, chủ đầu tư phải xác định rõ các yêu cầu về BIM, dữ liệu và công nghệ số ngay trong hồ sơ hợp đồng. "Có thể có một tầm nhìn, nhưng nếu không cụ thể hóa và đưa những yêu cầu đó vào hợp đồng, tầm nhìn sẽ không trở thành hiện thực", ông nhấn mạnh.

Chia sẻ kinh nghiệm từ tuyến đường sắt cao tốc Jakarta - Bandung, ông Rizky Yusuf Ramadhan, Trưởng bộ phận Hạ tầng BIM, PT Wijaya Karya (Persero) cho rằng, giá trị của BIM và kỹ thuật số không nằm ở việc tạo ra mô hình, mà ở khả năng phát hiện rủi ro và hỗ trợ ra quyết định sớm hơn.

Tuyến Jakarta - Bandung dài khoảng 142km, gồm các đoạn cầu cạn, nền đường, hầm, 4 nhà ga và một depot, với giá trị hợp đồng EPC khoảng 4,7 tỷ USD. Quá trình triển khai đồng thời đối mặt với nhiều thách thức về giải phóng mặt bằng, điều kiện địa chất phức tạp, giao diện giữa các hạng mục, tiến độ và nguy cơ đội chi phí.

Theo ông Rizky Yusuf Ramadhan, bước chuyển quan trọng không đơn thuần là sử dụng BIM mà là đưa kỹ thuật số vào quá trình ra quyết định. Nhờ đó, nhóm dự án có thể đánh giá phương án, phối hợp các chuyên ngành và nhận diện tác động trước khi triển khai ngoài công trường, thay vì chờ vấn đề phát sinh mới xử lý.

Từ thực tiễn dự án, ông rút ra bốn bài học: kỹ thuật số phải phục vụ ra quyết định; rủi ro cần được nhận diện trước khi ra công trường; phải kết nối toàn bộ quy trình thay vì chỉ kết nối mô hình; và quyết định càng được đưa ra sớm thì dự án càng có nhiều phương án xử lý, với chi phí thay đổi thấp hơn.

Đối với Việt Nam, chuyên gia cho rằng kỹ thuật số nên được tích hợp ngay từ giai đoạn đầu để so sánh phương án, đánh giá hiệu quả, lượng hóa chi phí, khối lượng, mô phỏng thi công và phối hợp các bên trước khi những quyết định trở nên khó đảo ngược.

"Việt Nam có cơ hội không chỉ sử dụng kỹ thuật số để xây dựng đường sắt mà còn phát triển năng lực trong nước ngay trong quá trình triển khai dự án", ông Rizky Yusuf Ramadhan nhấn mạnh.