Vật liệu xây dựng

Bộ Xây dựng tham vấn chính sách Luật Quản lý, phát triển vật liệu xây dựng

-

Ngày 9/9, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh chủ trì hội nghị Tham vấn chính sách dự án Luật Quản lý, phát triển vật liệu xây dựng.

Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền

Phát biểu khai mạc hội nghị, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh nhấn mạnh, vật liệu xây dựng là lĩnh vực có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Hình thành khuôn khổ pháp lý đồng bộ, ổn định cho vật liệu xây dựng- Ảnh 1.

Thứ trưởng Nguyễn Văn Sinh phát biểu khai mạc hội nghị.

Những năm qua, ngành vật liệu xây dựng đã ghi nhận tốc độ tăng trưởng nhanh, tạo ra nhiều dòng sản phẩm, hàng hóa đa dạng và giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động.

Tuy nhiên, lĩnh vực này vẫn đối mặt với một số hạn chế như việc đầu tư phát triển còn dàn trải, mất cân đối cung - cầu, gây lãng phí nguồn lực xã hội. Cùng với đó, công nghệ sản xuất ở nhiều nơi còn chậm đổi mới, chưa khai thác tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên và gây ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường.

Thứ trưởng Nguyễn Văn Sinh cho biết, thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy đầu tư công nghệ mới, hướng tới tạo ra các sản phẩm thân thiện với môi trường, tiết kiệm năng lượng và tài nguyên.

Trong đó, Bộ Xây dựng được giao nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng dự thảo Luật Quản lý, phát triển vật liệu xây dựng nhằm tạo động lực bứt phá cho toàn ngành.

Nêu rõ các định hướng lớn, Thứ trưởng nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt trong quá trình hoàn thiện chính sách là chỉ luật hóa những vấn đề thực sự cần thiết, ổn định và thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

Dự thảo luật hướng tới tôn trọng cơ chế thị trường, bảo đảm quyền tự do đầu tư, kinh doanh hợp pháp; phát triển vật liệu gắn liền với tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Đồng thời, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm và nguồn lực; chuyển sang quản lý dựa trên dữ liệu, giảm thiểu các báo cáo trùng lặp nhằm bảo đảm tính khả thi cho cả địa phương lẫn doanh nghiệp.

Trên tinh thần đó, Thứ trưởng Bộ Xây dựng đề nghị các đại biểu tham dự tập trung thảo luận, cho ý kiến vào một số nhóm vấn đề trọng tâm như: Phạm vi và công cụ định hướng phát triển; phát triển vật liệu mới, xanh và ứng dụng trong công trình; nguyên liệu và bảo đảm nguồn cung vật liệu thông thường; ứng dụng kinh tế tuần hoàn, cũng như công tác quản lý nhà nước và chuẩn hóa dữ liệu.

Hình thành khuôn khổ pháp lý đồng bộ, ổn định cho vật liệu xây dựng- Ảnh 2.

Ông Trần Văn Khải, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội phát biểu tại hội nghị.

Phát biểu tại hội nghị, ông Trần Văn Khải, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho biết, Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với lĩnh vực vật liệu xây dựng. Trong đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có những định hướng rất cụ thể đối với sự phát triển của ngành công nghiệp này.

"Đây là nguồn cảm hứng rất lớn để chúng ta yên tâm đóng góp ý kiến vào đạo luật đầu tiên về vật liệu xây dựng", ông Khải nói.

Dẫn lại các quan điểm chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, ông Khải nhấn mạnh, cần xác định vật liệu xây dựng là ngành công nghiệp nền tảng chiến lược.

Theo đó, ngành cần tập trung phát triển các dòng sản phẩm thế hệ mới, xanh, sạch, tiết kiệm tài nguyên và năng lượng; chuyển dịch mạnh mẽ từ khai thác tài nguyên sang chế biến sâu để từng bước làm chủ công nghệ.

Bên cạnh việc gia tăng sử dụng vật liệu tái chế, vật liệu thay thế nhằm giảm phát thải, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng. Đồng thời, phải bảo đảm nguồn cung các vật liệu cơ bản như cát, đá, xi măng, thép luôn minh bạch và ổn định.

Cũng tại hội nghị, ông Trần Văn Khải cơ bản thống nhất với sự cần thiết phải xây dựng một đạo luật chuyên ngành về vật liệu xây dựng. Đồng thời đánh giá cao Bộ Xây dựng trong việc nhanh chóng xây dựng dự thảo luật tương đối toàn diện, đáp ứng đúng chủ trương, quan điểm và tư duy đổi mới trong công tác xây dựng pháp luật.

Đảm bảo nguồn cung cho nhu cầu xây dựng

Trình bày báo cáo tại hội nghị, ông Nguyễn Hữu Thọ, Phó vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, Môi trường và Vật liệu xây dựng cho biết, việc hoàn thiện khung pháp lý về quản lý, phát triển vật liệu xây dựng nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ, tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, giảm phát thải, khuyến khích phát triển, sản xuất và sử dụng vật liệu xây dựng mới, vật liệu tái chế, xanh, nhẹ, thông minh, thân thiện với môi trường và các loại vật liệu phù hợp điều kiện đặc thù.

Hình thành khuôn khổ pháp lý đồng bộ, ổn định cho vật liệu xây dựng- Ảnh 3.

Ông Nguyễn Hữu Thọ, Phó vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, Môi trường và Vật liệu xây dựng.

Theo ông Nguyễn Hữu Thọ, trong quá trình xây dựng dự thảo luật, cơ quan chủ trì đã tổng kết thực tiễn, rà soát hệ thống pháp luật liên quan và đối chiếu từng vấn đề với pháp luật về xây dựng, quy hoạch, địa chất và khoáng sản, đầu tư, môi trường, tiêu chuẩn - quy chuẩn, chất lượng sản phẩm hàng hóa, năng lượng, khoa học công nghệ, thương mại và dữ liệu.

Cách làm này nhằm bảo đảm luật chỉ xử lý đúng khoảng trống pháp lý cần thiết, không quy định lại pháp luật chuyên ngành.

Ông Thọ cho biết, Bộ Xây dựng đã gửi hồ sơ lấy ý kiến rộng rãi các cơ quan, đơn vị có liên quan theo quy định. Các ý kiến cơ bản đều thống nhất với sự cần thiết xây dựng Luật và tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện chính sách.

Đồng thời, yêu cầu làm rõ hơn ba vấn đề xuyên suốt: chứng minh đúng khoảng trống pháp lý cần luật hóa; phân định rõ với pháp luật chuyên ngành và không phát sinh thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh mới; nâng cao tính khả thi của chính sách đối với địa phương, doanh nghiệp, nhất là về nguồn lực, tiêu chuẩn - quy chuẩn, dữ liệu và tổ chức thực hiện.

Hình thành khuôn khổ pháp lý đồng bộ, ổn định cho vật liệu xây dựng- Ảnh 4.

Toàn cảnh hội nghị.

Theo ông Nguyễn Hữu Thọ, mục tiêu chung của dự thảo luật là hình thành khuôn khổ pháp lý đồng bộ, ổn định cho quản lý và phát triển vật liệu xây dựng; thúc đẩy phát triển hiện đại, xanh, tuần hoàn, sử dụng hiệu quả tài nguyên, năng lượng, nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh; bảo đảm nguồn cung cho nhu cầu xây dựng.

Đồng thời, đổi mới phương thức quản lý nhà nước theo hướng phân cấp, số hóa, dữ liệu và hậu kiểm.

Cách tiếp cận là quản lý theo chuỗi giá trị nhưng không xây dựng một đạo luật "bao trùm để thay thế" các luật khác.

Luật dự kiến tập trung vào nguyên tắc, cơ chế đặc thù và những vấn đề cần tính ổn định; thủ tục đầu tư, khai thác khoáng sản, đất đai, môi trường, tiêu chuẩn - quy chuẩn, chất lượng, thuế, tín dụng, giá và các thủ tục chuyên ngành tiếp tục thực hiện theo các quy định pháp luật tương ứng.

Trên cơ sở đó, 6 chính sách của luật được thiết kế như 6 mắt xích gồm: Công cụ định hướng; phát triển ngành và công nghệ; nguyên liệu và nguồn cung; sử dụng trong công trình; tài nguyên thứ cấp và kinh tế tuần hoàn; quản lý nhà nước và dữ liệu.

Hình thành khuôn khổ pháp lý đồng bộ, ổn định cho vật liệu xây dựng- Ảnh 5.
Hình thành khuôn khổ pháp lý đồng bộ, ổn định cho vật liệu xây dựng- Ảnh 6.
Hình thành khuôn khổ pháp lý đồng bộ, ổn định cho vật liệu xây dựng- Ảnh 7.
Hình thành khuôn khổ pháp lý đồng bộ, ổn định cho vật liệu xây dựng- Ảnh 8.
Hình thành khuôn khổ pháp lý đồng bộ, ổn định cho vật liệu xây dựng- Ảnh 9.

Các đại biểu tham dự phát biểu ý kiến.

Tại hội nghị, đại diện các hiệp hội, doanh nghiệp tham dự thống nhất với sự cần thiết xây dựng Luật Quản lý, phát triển vật liệu xây dựng và đánh giá cao các nội dung trong dự thảo Luật.

Nhằm nâng cao tính thực tiễn của dự thảo luật, các đại biểu đề nghị cần làm rõ các cơ chế, chính sách ưu đãi cụ thể, khả thi hơn về thuế, tín dụng và đầu tư để khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, chuyển đổi sang sản xuất vật liệu xanh, vật liệu tái chế và áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn.

Ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đồng bộ, hướng dẫn cụ thể việc đưa vật liệu mới vào sử dụng trong các công trình; đồng thời, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương đi đôi với số hóa dữ liệu quản lý, giúp bảo đảm nguồn cung vật liệu thông thường minh bạch, ổn định và đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển hạ tầng thực tế.