Cần thận trọng khi bắt buộc bổ sung vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm
Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đề nghị việc mở rộng quy định bắt buộc bổ sung vi chất dinh dưỡng vào tất cả các loại thực phẩm là thay đổi quá lớn, cần được đánh giá hết sức thận trọng. Trước mắt là Ủy ban không đồng ý đưa vào dự thảo luật.
Chiều 24/9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi). Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên trình bày tờ trình của Chính phủ.

Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải trình bày báo cáo thẩm tra. Ảnh: Media Quốc hội.
Trình bày báo cáo thẩm tra sơ bộ dự thảo luật sau đó, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường (KH,CN&MT) Nguyễn Thanh Hải cho biết, Thường trực Ủy ban tán thành với sự cần thiết ban hành dự án Luật như lý do nêu trong Tờ trình số 174/TTr-CP của Chính phủ.
Tuy nhiên, đề nghị tiếp tục nghiên cứu, rà soát các quy định tại dự thảo Luật để bảo đảm tương thích, cập nhật, nội luật hóa các nội dung liên quan của các cam kết, điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc là thành viên.
Ngoài ra, đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát, thực hiện nghiêm túc Quy định số 178-QĐ/TW ngày 27/6/2024 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật. Tuyệt đối không để xảy ra hành vi "Cố ý, chủ trì ban hành hoặc tham mưu ban hành văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thể hiện lợi ích nhóm, cục bộ" hoặc các biểu hiện "tham nhũng chính sách" trong việc cấp chứng nhận, tiền kiểm, quảng cáo...
Đi vào cụ thể, Thường trực Ủy ban KH,CN&MT cho rằng việc giải thích khái niệm "phân tích nguy cơ về an toàn thực phẩm" gồm ba cấu phần là bước tiến quan trọng, tiệm cận khung phân tích nguy cơ của Codex. Tuy nhiên, đề nghị làm rõ nguyên tắc phân định ranh giới giữa thực phẩm bảo vệ sức khỏe với dược phẩm, mỹ phẩm.
Khái niệm "thực phẩm giả" thiên về liệt kê hành vi nên dễ bỏ sót thủ đoạn mới; điều kiện "nhằm mục đích trục lợi" làm quy phạm khó áp dụng và xung đột với pháp luật về hàng giả; có ý kiến đề nghị không đưa khái niệm này vào dự thảo Luật.

Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên trình bày tờ trình. Ảnh: Media Quốc hội.
Về quy định bắt buộc bổ sung vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm theo quy định của Chính phủ với hàm lượng do người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm (ATTP) trung ương quy định (khoản 3 Điều 16), Thường trực Ủy ban cho rằng việc mở rộng quy định bắt buộc bổ sung vi chất dinh dưỡng, chất khoáng, chất vi lượng vào tất cả các loại thực phẩm nói chung (thay cho quy định trước đây chỉ bắt buộc bổ sung đối với thực phẩm thiết yếu) là một thay đổi quá lớn, cần được đánh giá một cách hết sức thận trọng, kỹ lưỡng để đảm bảo phù hợp với với thực tiễn, chi phí tuân thủ của doanh nghiệp và lợi ích đối với sức khỏe cộng đồng.
Trước mắt, Thường trực Ủy ban không nhất trí với việc mở rộng bắt buộc đối với toàn bộ thực phẩm phải bổ sung vi chất dinh dưỡng. Và đề nghị không đưa vào dự thảo luật.
Đối với việc bắt buộc bổ sung vi chất đối với nhóm thực phẩm thiết yếu, Thường trực Ủy ban đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo hết sức cân nhắc thận trọng, kỹ lưỡng khi Luật hóa quy định này.
Trường hợp luật hóa, đề nghị bắt buộc phải bổ sung thêm vào dự thảo luật quy định về mặt nguyên tắc đối với việc giám sát để đảm bảo bổ sung đúng nhóm đối tượng thiếu vi chất, không để xảy ra rủi ro thừa đối với nhóm đã đủ vi chất gây tác hại cho sức khỏe.
Về trường hợp đăng ký bản công bố sản phẩm và bằng chứng khoa học (Điều 17), Thường trực Ủy ban cho rằng, việc quy định không rõ ràng như không giải thích khái niệm "bằng chứng khoa học" mà giao cho Chính phủ quy định cần được đánh giá kỹ, bởi quy định này dễ bị trục lợi chính sách trong thực tế, có thể gây khó khăn cho doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện này.
Vì vậy, đề nghị bổ sung giải thích khái niệm này tại Điều 2 và luật hóa tại Điều 17 các nguyên tắc tối thiểu như: loại bằng chứng được chấp nhận (nghiên cứu lâm sàng, tài liệu công bố trên tạp chí có phản biện, tài liệu của tổ chức quốc tế có thẩm quyền, tài liệu của cơ quan quản lý nước xuất khẩu); bằng chứng phải tương ứng với công dụng và đối tượng sử dụng; công khai cơ sở khoa học của quyết định chấp nhận hồ sơ.
Về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm (Chương III), Thường trực Ủy ban tán thành luật hóa việc áp dụng các tiêu chuẩn như GHP và hệ thống GFSI. Tuy nhiên, đề nghị bãi bỏ quy định kiểm tra lô đối với nguyên liệu nhập khẩu chỉ để sản xuất nội bộ hoặc gia công xuất khẩu, vì có thể phát sinh chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp trong khi đây chỉ là nguyên liệu phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp.
Về biện pháp quản lý sản phẩm thực phẩm (từ Điều 46 đến Điều 50), việc phân hóa biện pháp quản lý theo mức độ rủi ro là đúng hướng, phù hợp Điều 5 Hiệp định SPS. Tuy nhiên, Thường trực Ủy ban cho rằng các quy định tại Điều 46 khi đặt vào thực tiễn áp dụng sẽ chưa thực sự tối ưu, thiếu tiêu chí định lượng, tiềm ẩn nguy cơ ách tắc hành chính và phát sinh "giấy phép con".
Về hậu kiểm và chế tài xử lý vi phạm (Điều 58 và Điều 59), Thường trực Ủy ban ghi nhận bước tiến đáng kể khi thể chế hóa nguyên tắc hậu kiểm dựa trên phân tích nguy cơ và lịch sử tuân thủ. Tuy nhiên, cần làm rõ quy định "hậu kiểm hồ sơ sản phẩm sau công bố" có thực chất là tiền kiểm hay không, bởi "việc soi xét hồ sơ không mang lại giá trị bảo đảm an toàn thực phẩm mà vô hình trung tái lập cơ chế thẩm định ngầm".
Cơ quan thẩm tra nhìn nhận, việc cho phép đoàn kiểm tra niêm phong, tạm dừng bán, tạm dừng quảng cáo khi chưa có bằng chứng rõ ràng sẽ gây đình trệ chuỗi cung ứng và tổn hại uy tín doanh nghiệp, trong khi chưa quy định trách nhiệm bồi thường của cơ quan nhà nước và quyền yêu cầu kiểm nghiệm kiểm chứng độc lập.
Cơ quan thẩm tra đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu để kiến nghị bổ sung chế tài xử phạt bổ sung mang tính răn đe cao như: cấm có thời hạn hoặc cấm vĩnh viễn việc tham gia hoạt động, hành nghề trong lĩnh vực an toàn thực phẩm đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm cố ý, nghiêm trọng gây ngộ độc thực phẩm.
Đồng thời, xem xét, bổ sung quy định bắt buộc công khai minh bạch danh sách các cơ sở, cửa hàng, cá nhân vi phạm về an toàn thực phẩm trên nền tảng dữ liệu số công khai ở cấp xã, tỉnh để huy động sức mạnh giám sát của cộng đồng.