70 năm truyền thống ngành GTVT

Chuyến tàu đặc biệt chở Bác Tôn thăm Cù lao Ông Hổ

Đã 39 năm trôi qua, nhưng Đại tá - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Xuân Hoàng vẫn nhớ như in lần điều khiển chuyến tàu đưa Bác Tôn về thăm quê ở cù lao Ông Hổ...

TIN LIÊN QUAN

 

Một góc Đền thờ Bác Tôn, trong khu lưu niệm được xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt
Một góc Đền thờ Bác Tôn, trong khu lưu niệm được xếp hạng di tích Quốc gia
đặc biệt


Chuyến tàu đặc biệt


Năm nay đã 64 tuổi, đang sống tại một hẻm nhỏ giữa TP Long Xuyên nhưng Đại tá Nguyễn Xuân Hoàng còn rất hoạt bát và hiếu khách. Vì vậy nghe tôi mở lời, ông vào đề ngay: “Đó là chuyến tàu đặc biệt nhất trong cuộc đời gần 40 năm binh nghiệp của tôi”. 


Khi đó ông Hoàng là Thiếu úy, Đại đội trưởng Đại đội tàu (BCH quân sự tỉnh Long Châu Hà, nay là An Giang). Cũng như bao ngày của đơn vị bộ đội, sáng cuối tháng 10/1975, khi đang họp đơn vị, ông nhận được lệnh của đồng chí Tám Khá, tức Hà Minh Khá, Chỉ huy trưởng BCH Quân sự tỉnh Long Châu Hà mời lên nhận nhiệm vụ tuyệt mật còn cụ thể thế nào thì đồng chí Cục trưởng Cục Bảo vệ đang nghỉ ở khách sạn Hoàn Mỹ (toạ lạc tại phường Mỹ Bình, TP Long Xuyên) triển khai. Cùng đi còn có Sáu Hội (Lê Phú Hội, Đại đội trưởng Thông tin, sau này là Bí thư Tỉnh ủy An Giang). 
 

Giang Cảnh là tàu “nhà binh” dài trên 10 m, rộng 3 m, tải trọng hơn 2 tấn, được chế tạo bằng nhựa. Năm 2010, với sự trợ giúp về bản vẽ kỹ thuật và trực tiếp chỉ huy thi công của Đại tá Nguyễn Xuân Hoàng, Phòng kỹ thuật BCH quân sự tỉnh An Giang đã phục chế thành công tàu Giang Cảnh để đưa vào Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng ở xã Mỹ Hòa Hưng cho mọi người tham quan. 

 

Đại tá Nguyễn Xuân Hoàng, SN 1950 ở xã Dương Tơ (Phú Quốc) được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba,ba lần là Dũng sĩ Đánh giao thông, bốn lần là Dũng sĩ quyết thắng, năm lần là Chiến sĩ thi đua, nhiều Bằng khen, Giấy khen các loại. Năm 1998, ông được Chủ tịch Nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Đến khách sạn, đồng chí Cục trưởng cho biết, nhiệm vụ sắp tới là lái tàu đưa Bác Tôn về thăm cù lao Ông Hổ (Mỹ Hòa Hưng - Long Xuyên)” và đề nghị ông đề xuất tàu làm nhiệm vụ đặc biệt này.

Lúc đó, đội của ông đang quản lý 12 chiếc tàu vừa tịch thu của địch, trong đó có bốn chiếc tàu Giang Cảnh và ông đã đề xuất chiếc Giang Cảnh mới nhất. (Sau này ông Hoàng mới biết, bộ phận nghiệp vụ đã cải trang như bộ phận kỹ thuật của T.Ư đến kiểm tra tàu). Sau đó, ông được đảm bảo bí mật bằng cách ăn, nghỉ ngay tại phòng được bố trí sẵn trong khách sạn. 

Đến chiều ngày thứ 2, Cục trưởng mời đến cho biết, lộ trình chuyến đi…từ Long Xuyên sang cù lao Ông Hổ và yêu cầu bố trí ghế cho Bác Tôn ngồi cạnh tài công sao cho cao hơn tài công khoảng 2 tấc. Do con tàu chỉ thiết kế chiếc ghế duy nhất cho tài công mà trời đã xế chiều… nên ông Hoàng đến tiệm hớt tóc mượn ghế nệm có tựa lưng, hàn thêm chân…


Đúng 7h30 hôm sau, ông Hoàng đưa tàu đến bến đã định sẵn (nay là nơi đóng quân của Trung đoàn 962-QK IX) đón Bác Tôn. Hôm đó Bác Tôn mặc áo sơ mi trắng và chiếc quần ka-ki bạc màu, chân mang dép râu… 


Do đang thời điểm mùa nước lên, đường sá ngập sình lầy nên chỉ thị là lái tàu theo lòng rạch từ sông Hậu vào nhà. Đó là con rạch nhỏ, chỉ nhỉnh hơn thân tàu, ven hai bên bờ lau sậy um tùm. Vì vậy, ông Hoàng vừa lái vừa lo ong có thể túa ra tấn công bất cứ lúc nào. Khi tàu cập bến, Bác Tôn đứng nhìn cảnh vật xung quanh rất lâu rồi mới bước lên. Cuộc viếng thăm chỉ diễn ra chưa đầy một giờ thì Bác ra đi. Do không thể quay đầu, tàu phải chạy lùi trong điều kiện bị khuất tầm nhìn phía sau nên đầu óc căng thẳng, mồ hôi ướt cả người.

Đến khi tàu ra tới sông Hậu, đột nhiên Bác Tôn vỗ vào vai nói: “Bác là thuỷ thủ nên biết tay nghề của cháu rất khá và sáng tạo, phải cố gắng phát huy để góp sức xây dựng đất nước!”. Câu nói chân tình và duy nhất trong suốt hành trình ấy đã làm thay đổi cuộc đời người lái tàu Nguyễn Xuân Hoàng. 
 

Đại tá Nguyễn Xuân Hoàng bên con tàu chở Bác Tôn do chính ông chỉ huy phục chế đang được lưu giữ tại Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng (Mỹ Hòa Hưng)
Đại tá Nguyễn Xuân Hoàng bên con tàu chở Bác Tôn do chính ông chỉ huy phục chế đang được lưu giữ tại Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng (Mỹ Hòa Hưng)

Nhớ lời Bác, thành… Anh hùng


Lời dặn của Bác Tôn đã thôi thúc ông nỗ lực làm việc hết mình. Dù ở cương vị chủ nhiệm Kỹ thuật của BCH quân sự tỉnh An Giang, hay Cục phó Cục kỹ thuật Quân khu IX, ông cũng nỗ lực, không chỉ hoàn thành nhiệm vụ được giao mà còn tìm tòi, nghiên cứu cho ra đời nhiều công trình sáng tạo, thiết thực. Nổi bật là công trình súng phóng lựu và giàn phóng lựu (năm 1992). 


Từ kinh nghiệm chế tạo mìn trong những năm tháng chỉ huy Đại đội đặc công thủy của tỉnh Long Châu Hà trong chiến tranh, đã gợi mở cho ông suy nghĩ và chế tạo hệ thống ống phóng, đạn tống và lựu đạn vỏ nhựa hoạt động theo nguyên lý tối giản: Chỉ cần lắp vào phía trước nòng súng, bóp cò là có thể “ném” quả lựu đạn trúng đích trong phạm vi 100-150m.

Riêng giàn phóng lựu, mỗi lần ấn nút, có thể phóng 5-10 quả. Sáng kiến này không chỉ đưa tên tuổi ông Hoàng nổi như cồn mà còn được Bộ Quốc phòng tặng Bằng khen, đánh giá rất cao. Bởi nó gợi mở ra nhiều vấn đề về chiến tranh nhân dân trong thời đại mới: Có thể tận dụng, kết hợp tất cả mọi vật liệu, máy móc, phương tiện có sẵn trong đời sống thường ngày tại chỗ để chế tạo vũ khí hiện đại phục vụ cho chiến tranh nhân dân. 


Điều đặc biệt hơn là khi tạo ra kỳ tích này, ông Hoàng học chưa hết lớp 8 trường làng và chỉ mới dự vài lớp tập huấn về kỹ thuật. Chính điều này đã thúc đẩy cấp trên chú ý thêm những chiến tích trong thời kỳ chống Mỹ của ông để rồi năm 1998 Chủ tịch Nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho người con của đảo ngọc Phú Quốc (Kiên Giang) sớm giác ngộ cách mạng. Năm 1968, đang học lớp 8 ở đảo Phú Quốc (lúc đó thuộc tỉnh Long Châu Hà, nay là Kiên Giang) Nguyễn Xuân Hoàng tình nguyện gia nhập Bộ đội Cụ Hồ rồi được đào tạo làm đặc công thủy. 


Tính đến ngày thống nhất đất nước, ông trực tiếp tham gia chiến đấu 72 trận, diệt và làm bị thương 87 tên, 13 lần đánh sập cầu, hạ một đồn, phá hủy ống dẫn dầu ở Quân cảng Phú Quốc. Đặc biệt, chỉ trong 12 ngày đêm cuối năm 1974, ông đã 4 lần chỉ huy và trực tiếp đánh sập cầu Vàm Răng, Vàm Rầy, diệt và làm bị thương 45 tên địch, làm tê liệt đường tiếp viện của địch từ Rạch Giá về Ba Hòn - Hà Tiên, góp phần bẻ gãy ý đồ mở rộng chiến dịch càn quét hòng phá hỏng Hiệp định Paris của địch. 

Lâm Điền