ĐBQH: Cần thận trọng khi mở rộng quyền sử dụng biển cho tổ chức, cá nhân
Đại biểu Quốc hội Trần Văn Lâm đề nghị đặc biệt kiểm soát việc chuyển mục đích sử dụng biển và phần giá trị tăng thêm do quyết định của Nhà nước, không để hình thành tình trạng được giao biển nhưng mục đích chính là giữ quyền chờ tăng giá.
Chiều 28/9, phát biểu thảo luận tại Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách lần thứ Nhất, góp ý Dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), ĐBQH Trần Văn Lâm (Bắc Ninh) cho biết dự thảo Luật lần này đã thể hiện nhiều thay đổi quan trọng, thể hiện tư duy mới trong quản lý. Đây đều là những hướng tiếp cận phù hợp với nhu cầu phát triển mới.

Đại biểu Trần Văn Lâm phát biểu thảo luận.
Tuy nhiên, đại biểu đã dành toàn bộ thời gian phát biểu của mình để đề nghị xem xét việc mở rộng quyền sử dụng biển cho tổ chức và cá nhân.
Nêu lý do, đại biểu cho rằng chúng ta đã có bài học thực tiễn rất lớn trong quản lý đất đai. Hiện nay, việc Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, tổ chức đã tạo động lực rất lớn cho phát triển. Quyền sử dụng đất đã trở thành nguồn lực cho sản xuất kinh doanh, đầu tư, vay vốn tín dụng.
Nhưng cùng với thời gian, quyền sử dụng đất ngày càng mang tính tài sản và có thể chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn. Thị trường cũng phát sinh rất nhiều các quan hệ phức tạp như đầu cơ, tích tụ chờ tăng giá, chuyển mục đích để hưởng chênh lệch địa tô, tranh chấp, định giá, thu hồi, bồi thường, đấu giá bỏ cọc, sử dụng đất không đúng mục đích, khiếu nại, tố cáo phức tạp phát sinh rất nhiều.
Theo đại biểu, một khu vực biển còn phức tạp hơn nhiều so với một thửa đất. Bởi một thửa đất thông thường chỉ có ranh giới tương đối ổn định, nhưng một khu vực biển là không gian ba chiều; cùng một vị trí có thể liên quan đến mặt nước, khối nước, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển, đồng thời có thể ảnh hưởng đến luồng hàng hải, nguồn lợi thủy sản, điện gió, dầu khí, quốc phòng, môi trường, sinh kế của cộng đồng. Do đó, tính chất phức tạp của nguồn lực tài nguyên biển là lớn hơn.
Theo ông, kinh nghiệm từ đất đai đặt ra ít nhất ba bài toán cần phải được làm rõ ngay từ khi thiết kế luật này.
Một là, phải xác định thật rõ bản chất và giới hạn về quyền sử dụng khu vực biển. Quyền này không được hiểu gần như quyền sở hữu, cũng không nên cơ học sao chép toàn bộ các quyền của người sử dụng đất.
Cùng với đó, cần phân biệt rõ quyền nào được chuyển nhượng, quyền nào được thế chấp, góp vốn, cho thuê lại; trường hợp nào phải được Nhà nước chấp thuận; khu vực nào thuộc quốc phòng, an ninh, môi trường hoặc lợi ích chiến lược phải hạn chế giao dịch.
Điều quan trọng là không để sau này hình thành tình trạng được giao biển nhưng mục đích, mục tiêu chính lại là giữ quyền chờ tăng giá. Người được giao biển phải có đủ năng lực, có dự án, có tiến độ và phải đưa khu vực biển vào sử dụng đúng mục đích, hiệu quả.
Hai là, đặc biệt kiểm soát việc chuyển mục đích sử dụng biển và phần giá trị tăng thêm do quyết định của Nhà nước. Nếu như với đất đai, một quyết định thay đổi quy hoạch hay chuyển mục đích cũng có thể làm giá trị quyền sử dụng tăng lên rất lớn, thì với biển tình huống tương tự hoàn toàn có thể xảy ra.
Một khu vực ban đầu được giao cho hoạt động có giá trị thấp, sau đó chuyển sang cảng biển, năng lượng, du lịch và hoạt động thương mại thì giá trị sẽ tăng lên rất nhiều lần.
Vì vậy, cần làm rõ ngay từ đầu việc chuyển mục đích không phải là quyền đương nhiên của người đang sử dụng. Khi thay đổi mục đích làm tăng căn bản giá trị kinh tế của khu vực biển thì nghĩa vụ tài chính phải được xác định lại.
"Cần thiết phải xem xét cơ chế lựa chọn nhà đầu tư, nếu không kiểm soát tốt khâu này thì sẽ hình thành cơ chế để hưởng lợi từ mục đích khác", đại biểu góp ý.
Ba là, quản lý toàn bộ hồ sơ quyền sử dụng biển bằng dữ liệu số, công khai, minh bạch ngay từ đầu. Thực tế cho thấy, đất đai hiện nay phải xử lý rất nhiều các quan hệ lịch sử qua nhiều thời kỳ nhưng chưa đăng ký hồ sơ và thực tế sử dụng rất khác nhau.
Theo ông Lâm, đối với biển, chúng ta đang xây dựng một chế định mới nên có điều kiện tránh lặp lại vấn đề đó. Việc giao, cho thuê, đăng ký, chuyển nhượng, thế chấp, thay đổi chủ thể, chuyển mục đích và thu hồi quyền sử dụng khu vực biển, cần được cập nhật vào hệ thống dữ liệu thống nhất.
"Một khu vực biển phải được xác định ngay: ai đang sử dụng, sử dụng vào mục đích gì, trong thời hạn bao lâu và nghĩa vụ tài chính thế nào, có đang thế chấp hay chuyển nhượng hay không.
Đồng thời phải thiết kế rõ cơ chế thu hồi những trường hợp không sử dụng, sử dụng sai mục đích, chậm tiến độ hoặc lợi dụng việc sử dụng biển để đầu cơ", đại biểu Trần Văn Lâm lưu ý.
Dựu thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) gồm 6 chương, 76 điều, tập trung quy định về quản lý tổng hợp tài nguyên không gian biển, bảo vệ môi trường biển, hải đảo và quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Một nội dung đáng chú ý là hoàn thiện cơ chế quản lý, phân bổ, sử dụng không gian biển. Dự thảo quy định việc giao, cho thuê, đăng ký sử dụng khu vực biển, đấu giá quyền sử dụng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển, qua đó tạo cơ sở phân bổ nguồn lực công khai, minh bạch, hiệu quả và xử lý xung đột trong sử dụng biển.
Dự thảo hoàn thiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng khu vực biển. Theo đó, có các quyền chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển và tài sản gắn liền, chuyển mục đích sử dụng, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và nghĩa vụ tài chính.
Các quyền này được thực hiện theo điều kiện, giới hạn phù hợp với quy hoạch, mục đích, thời hạn sử dụng và yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia, quốc phòng, an ninh, môi trường. Theo Thứ trưởng, đây là cơ sở tạo sự ổn định pháp lý và huy động nguồn vốn lâu dài cho phát triển trên biển.