ĐBQH: Nên cho thăm dò, khai thác khoáng sản từng phần, gỡ vướng nguồn vật liệu xây dựng
Đại biểu Thái Thị An Chung (đoàn Nghệ An) đề nghị nghiên cứu cơ chế công nhận kết quả thăm dò, khai thác từng phần đối với khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, qua đó rút ngắn thời gian đưa vật liệu vào công trường.
Chiều 12/8, Quốc hội thảo luận tại Hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.

Đại biểu Thái Thị An Chung (đoàn Nghệ An). Ảnh: Media Quốc hội.
Góp ý sửa đổi, bổ sung Luật Địa chất và Khoáng sản, các đại biểu Thái Thị An Chung (đoàn Nghệ An), Nguyễn Phi Hùng (đoàn TP Đà Nẵng) và Nguyễn Đặng Ân (đoàn Lạng Sơn) đề xuất nhiều giải pháp tháo gỡ vướng mắc trong khai thác, quản lý khoáng sản, đồng thời bảo đảm quyền lợi của người dân.
Tuy nhiên, theo đại biểu, đối với khai thác khoáng sản nhóm 3 là vật liệu xây dựng thông thường, dù Nghị quyết 66.4 đã có cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ nhưng việc cấp phép khai thác trên thực tế vẫn kéo dài, chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu vật liệu cho các công trình, dự án, nhất là công trình, dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia và các dự án phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Qua thực tiễn triển khai dự án cho thấy có tình trạng nguồn vật liệu không đáp ứng kịp tiến độ thi công. Nguyên nhân không hẳn do địa bàn không có tài nguyên mà từ khi xác định được nguồn khoáng sản đến khi có thể đưa vào khai thác còn mất nhiều thời gian.
Theo đại biểu, trong quá trình thăm dò, có trường hợp một phần khu vực khoáng sản đã được xác định tương đối rõ về vị trí, chất lượng và trữ lượng nhưng vẫn phải chờ hoàn thành toàn bộ quá trình thăm dò mới có thể chuyển sang khai thác. Trong khi đó, nhu cầu vật liệu của dự án lại phát sinh theo từng giai đoạn, từng đoạn tuyến.
Do đó, đại biểu An Chung kiến nghị nghiên cứu cơ chế công nhận kết quả thăm dò từng phần, khai thác từng phần.
Đại biểu đề nghị sửa đổi Điều 50 theo hướng, trong quá trình thăm dò, nếu đã xác định một phần khu vực khoáng sản đáp ứng yêu cầu về ranh giới, chất lượng và trữ lượng thì tổ chức, cá nhân được đề nghị công nhận kết quả thăm dò đối với phần đã xác định; phần còn lại tiếp tục được thăm dò theo đề án đã được phê duyệt.
Đồng thời, đại biểu đề nghị bổ sung vào khoản 1 Điều 55 nguyên tắc cấp giấy phép khai thác đối với khoáng sản là vật liệu xây dựng thông thường phục vụ các dự án quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 66.4.
Theo đó, nếu trong quá trình thăm dò đã xác định một phần khu vực khoáng sản đáp ứng điều kiện về ranh giới, chất lượng, trữ lượng và điều kiện khai thác thì được cấp giấy phép đối với phần đã xác định, đồng thời tiếp tục thăm dò phần còn lại.
"Việc sửa đổi này sẽ rút ngắn thời gian đưa vật liệu vào công trường, đồng thời vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý chặt chẽ tài nguyên, tạo cơ chế pháp lý ổn định thay cho việc phải đưa ra cơ chế đặc thù trong từng dự án", đại biểu An Chung phân tích.

Đại biểu Nguyễn Phi Hùng (đoàn TP Đà Nẵng). Ảnh: Media Quốc hội.
Về thu hồi khoáng sản trong hoạt động nạo vét, đại biểu cho rằng, chủ trương thu hồi cát, sỏi trong quá trình nạo vét lòng hồ, lòng sông, hồ thủy lợi, thủy điện, vùng lạch là phù hợp, vừa tận dụng hiệu quả tài nguyên, vừa góp phần khơi thông dòng chảy, tăng khả năng phục vụ và phát huy công năng công trình.
Tuy nhiên, pháp luật chuyên ngành hiện còn chưa đồng bộ, có nội dung chồng chéo, gây khó khăn và kéo dài thủ tục. Vì vậy, đại biểu đề nghị quy định ngắn gọn, thống nhất, rõ trách nhiệm, tạo cơ chế thuận lợi để thu hồi, sử dụng khoáng sản trong quá trình nạo vét, đồng thời quản lý chặt chẽ tài nguyên, chống thất thoát và bảo đảm hồ sơ, thủ tục đơn giản, phù hợp thực tế.
Cùng thảo luận tại hội trường, đại biểu Nguyễn Phi Hùng (đoàn TP Đà Nẵng) kiến nghị ba nội dung.
Thứ nhất, bổ sung quy định về tham vấn ý kiến cộng đồng đối với việc cấp phép khai thác khoáng sản. Theo đại biểu, hoạt động địa chất, khoáng sản có thể làm biến đổi địa chất, sạt lở bờ sông, thay đổi dòng chảy, ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sản xuất của người dân.
Do đó, cần quy định bắt buộc tổ chức lấy ý kiến tham vấn công khai của cộng đồng dân cư nơi chịu ảnh hưởng trực tiếp của dự án mỏ trước khi trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định.
Thứ hai, siết chặt quy định về đóng cửa mỏ và cơ chế giám sát của nhân dân. Đại biểu cho biết, dự thảo phân cấp thẩm quyền thẩm định, phê duyệt đề án và chấp thuận phương án đóng cửa mỏ cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Tuy nhiên, thực tế có những mỏ đã hoàn thành đóng cửa trên hồ sơ nhưng trên thực địa vẫn còn hố sâu nguy hiểm, chưa hoàn trả hiện trạng, gây ô nhiễm nguồn nước và ảnh hưởng môi trường.
Thứ ba, đề nghị bổ sung quy định bắt buộc chủ đầu tư, chủ mỏ trích tối thiểu 10% nguồn thu từ quyền khai thác tài nguyên khoáng sản để điều tiết trực tiếp cho ngân sách cấp xã nơi có hoạt động khai thác. Nguồn kinh phí này chỉ sử dụng để sửa chữa hạ tầng giao thông, xây dựng công trình dân sinh về y tế, giáo dục và phục hồi môi trường sống cho cộng đồng.