Tài chính

Để nền kinh tế sớm hóa rồng…

-

Để bước qua bẫy thu nhập trung bình, trở thành quốc gia phát triển, Việt Nam không thể tiếp tục đi theo con đường tăng trưởng dựa trên lao động giá rẻ, gia công lắp ráp hay khai thác tài nguyên.

Theo TS Nguyễn Quốc Việt, nguyên Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách - VEPR, nền kinh tế chỉ hóa rồng khi nội lực doanh nghiệp nội địa đủ mạnh để chủ động trong chuỗi giá trị toàn cầu.

 - Ảnh 1.

TS Nguyễn Quốc Việt.

Sẵn sàng đón dòng vốn công nghệ cao

Sau nhiều thập kỷ thu hút FDI và tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, theo ông, Việt Nam đang đứng ở đâu trong chuỗi giá trị?

Báo cáo Asian Development Policy Report (ADPR 2026) của ADB nhận định Việt Nam cùng Malaysia là hai mắt xích quan trọng tại Đông Nam Á trong việc đón dòng vốn dịch chuyển sản xuất công nghệ cao.

Tuy nhiên, nếu phân tích phương pháp Thương mại theo giá trị gia tăng (TiVA), bức tranh về vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu lại có nhiều khác biệt.

Thứ nhất, Việt Nam vẫn là nơi tập trung chủ yếu các hoạt động gia công, lắp ráp thâm dụng lao động với tỷ suất lợi nhuận thấp. Trong khi đó, những công đoạn tạo giá trị gia tăng cao như R&D (nghiên cứu và phát triển), thiết kế, sở hữu sáng chế và các khâu như xây dựng thương hiệu, marketing, dịch vụ vẫn chủ yếu nằm trong tay các tập đoàn nước ngoài.

Thứ hai, tỷ lệ giá trị gia tăng nước ngoài (FVA) trong hàng hóa công nghệ cao của Việt Nam dao động 40-50% và có xu hướng tăng, thuộc nhóm cao nhất ASEAN.

Thứ ba, năng lực công nghệ và mức độ phức tạp của nền kinh tế còn hạn chế. Đầu tư cho R&D toàn xã hội hiện chỉ khoảng 0,4% GDP, chưa đủ để tạo ra bước nhảy vọt về năng lực công nghệ nội sinh.

Điều gì khiến doanh nghiệp nội địa chưa thể đảm nhận các khâu có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi cung ứng, thưa ông?

Một trong những điểm nghẽn lớn là sự đứt gãy liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước. Khu vực FDI đang có xu hướng vận hành như những "ốc đảo kinh tế". Dù Việt Nam đã thu hút nhiều tập đoàn toàn cầu, mức độ lan tỏa công nghệ sang khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn hạn chế.

Phần lớn doanh nghiệp tư nhân Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hạn chế về vốn cố định khiến doanh nghiệp khó đầu tư vào máy móc hiện đại, tự động hóa và chuyển đổi số. Điều này tạo thành một vòng luẩn quẩn: thiếu vốn - công nghệ lạc hậu - năng suất thấp - lợi nhuận mỏng - thiếu nguồn lực tái đầu tư.

Hạn chế về "tri thức xuất khẩu" và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe của quốc tế cũng là một rào cản đối với doanh nghiệp Việt.

Cần công cụ để đo lường

Vậy, theo ông, cần thay đổi gì để tháo gỡ những điểm nghẽn trên?

Thực tế, điểm nghẽn lớn nhất không nằm riêng ở từng yếu tố kỹ thuật, mà ở sự cộng hưởng giữa năng lực nội sinh còn hạn chế và tư duy quản trị thể chế chưa theo kịp yêu cầu mới.

 - Ảnh 2.

Nguồn: Cục Thống kê, Bộ Tài chính

Thể chế chính là "chìa khóa" có thể mở đường hoặc kìm hãm các nguồn lực khác. Khi cơ chế quản trị chưa phù hợp, ngay cả những nguồn lực về vốn, công nghệ, nhân lực hay đổi mới sáng tạo cũng khó phát huy hiệu quả.

Ông có thể phân tích cụ thể hơn?

Điều này rất rõ trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và R&D - nơi đổi mới sáng tạo luôn đi kèm với thử nghiệm và rủi ro thất bại. Nếu áp dụng cách thức thanh quyết toán ngân sách tương tự một dự án đầu tư công thông thường, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu sẽ khó có động lực chấp nhận rủi ro để phát triển những công nghệ mới.

Một điểm nghẽn khác là hệ thống chính sách hỗ trợ chưa đủ mạnh để nâng cao năng lực công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp trong nước.

Việt Nam hiện còn thiếu một cơ sở dữ liệu đủ chi tiết về mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đặc biệt, chưa xây dựng được hệ thống dữ liệu kết nối thông tin thương mại quốc tế từ cơ quan hải quan với đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp từ các cuộc điều tra doanh nghiệp hằng năm.

Khi chưa có công cụ để đo lường chính xác từng ngành, từng nhóm doanh nghiệp và từng khâu trong chuỗi giá trị đang tạo ra bao nhiêu giá trị gia tăng nội địa, việc thiết kế chính sách hỗ trợ dễ rơi vào tình trạng "cào bằng", phân bổ nguồn lực dàn trải và thiếu trọng tâm.

Tránh dàn trải nguồn lực

Việt Nam đang tập trung nguồn lực quốc gia cho các ngành công nghiệp mũi nhọn của tương lai như bán dẫn, AI, năng lượng xanh, công nghệ sinh học. Theo ông, cách lựa chọn và phân bổ nguồn lực hiện nay đã đủ trọng tâm, đúng hướng chưa?

Định hướng tập trung nguồn lực vào bán dẫn, AI và năng lượng xanh là đúng đắn, phù hợp với Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tuy nhiên, từ thực tiễn triển khai chính sách thu hút FDI vào các ngành công nghiệp trọng điểm giai đoạn 2025-2026, cần thẳng thắn nhìn nhận một số rủi ro mang tính cấu trúc.

 - Ảnh 3.

Những tháng đầu năm, bức tranh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực công nghệ caotại Việt Nam trở nên sôi động hơn với sự xuất hiện của hàng loạt dự án mới.

Việt Nam có thể đối mặt với rủi ro tương tự như một số quốc gia nếu chỉ tập trung thu hút các tập đoàn FDI lớn vào những khâu như đóng gói, kiểm thử bán dẫn hoặc trung tâm AI, nhưng năng lực hấp thụ công nghệ và tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa của doanh nghiệp trong nước không được cải thiện tương ứng.

Khi đó, GDP có thể tăng nhanh nhưng phần giá trị thực sự giữ lại trong nền kinh tế và thu nhập của người dân có thể không tăng tương xứng.

Theo ông, còn những rủi ro nào khác cần lưu ý?

Một rủi ro khác là sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng đầu vào, nhất là khoáng sản chiến lược. Các ngành công nghiệp tương lai như xe điện và năng lượng xanh phụ thuộc lớn vào nguồn cung lithium, cobalt và đất hiếm. Trong khi đó, cạnh tranh địa chính trị ngày càng gay gắt xung quanh các chuỗi cung ứng khoáng sản này.

Nếu Việt Nam chủ yếu tham gia ở các khâu hạ nguồn như lắp ráp pin, xe điện nhưng chưa làm chủ được công nghệ chế biến sâu hoặc bảo đảm nguồn cung đầu vào, các ngành công nghiệp mũi nhọn sẽ đối mặt với nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng.

Cuối cùng là nguy cơ phân tán nguồn lực. Nguồn lực quốc gia dành cho R&D, trong đó dự kiến nâng tỷ trọng chi đầu tư công cho R&D lên 3%, cùng với nguồn lực phát triển hạ tầng công nghệ cao vẫn còn phân tán giữa nhiều bộ, ngành và địa phương.

Nếu không có cơ chế tập trung nguồn lực đủ lớn, có nguy cơ dàn trải đầu tư, khó hình thành những tập đoàn công nghệ nội địa đóng vai trò "sếu đầu đàn", đủ năng lực làm chủ công nghệ lõi, thiết kế và dẫn dắt chuỗi cung ứng trong nước.

Nâng cao năng lực công nghệ

Vậy thời gian tới, Việt Nam cần thay đổi chính sách thu hút FDI theo hướng nào, thưa ông?

Chúng ta cần một cuộc cách mạng trong xây dựng chiến lược, kế hoạch và quản trị kinh tế vĩ mô.

Trước hết, cần thay đổi hệ thống chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng và mức độ hội nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu. Thay vì chạy theo "kim ngạch xuất khẩu gộp" hay "tăng trưởng GDP thuần túy", cần chuyển sang quản trị dựa trên những chỉ tiêu phản ánh giá trị thực mà nền kinh tế tạo ra và giữ lại, như tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa trong xuất khẩu, thu nhập quốc dân/thu nhập quốc dân khả dụng…

Chỉ khi đo lường chính xác sức khỏe và năng lực cạnh tranh thực chất của nền kinh tế, từng ngành và khu vực doanh nghiệp trong nước, chúng ta mới có cơ sở thiết kế các chính sách tài khóa, tiền tệ và hỗ trợ doanh nghiệp phù hợp.

Cùng đó, cần đổi mới chính sách R&D và xây dựng cơ chế thử nghiệm cho các công nghệ mới, nâng cao năng lực công nghệ nội tại của quốc gia và doanh nghiệp.

Đồng thời, thiết lập các trung tâm thử nghiệm công nghệ với môi trường pháp lý linh hoạt, tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt thử nghiệm và hoàn thiện các công nghệ mới trong AI, tài chính xanh, bán dẫn.

Cơ chế khoán chi tài chính theo sản phẩm đầu ra cũng cần được thể chế hóa, thay cho cách quản lý nặng về thủ tục.

Cảm ơn ông!

Vốn FDI thực hiện cao nhất trong 5 năm

Theo số liệu của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam đạt 38,06 tỷ USD trong 7 tháng năm 2026, tăng 58% so với cùng kỳ năm trước.

Con số này bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài.

Trong đó, cả nước có 2.429 dự án mới được cấp phép, với tổng vốn đăng ký 21,05 tỷ USD. Số dự án tăng 7,8% so với cùng kỳ, trong khi vốn đăng ký gấp 2,1 lần.

Vốn đăng ký điều chỉnh có 666 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký tăng thêm 10,43 tỷ USD, tăng 4,4%. Hoạt động góp vốn, mua cổ phần đạt 6,58 tỷ USD, tăng 61,6%, qua 1.815 lượt giao dịch.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện trong 7 tháng ước đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ và là mức cao nhất của 7 tháng trong 5 năm gần đây.

So với số liệu lũy kế 6 tháng, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký tăng thêm khoảng 3,41 tỷ USD trong tháng 7. Trong đó, vốn cấp mới tăng khoảng 3,66 tỷ USD, góp vốn, mua cổ phần tăng khoảng 360 triệu USD.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu về thu hút vốn cấp mới với 11,58 tỷ USD, chiếm 55% tổng vốn đăng ký mới. Ngành sản xuất, phân phối điện, khí, nước và điều hòa không khí đứng tiếp theo với 3,13 tỷ USD, chiếm 14,9%. Các ngành còn lại thu hút 6,34 tỷ USD, tương đương 30,1%.

5 địa phương dẫn đầu thu hút gần 27,65 tỷ USD

Theo số liệu của Cục Thống kê, TP.HCM đứng đầu cả nước với tổng vốn FDI đăng ký đạt 10,34 tỷ USD, chiếm 27,18% tổng vốn và tăng 157,1% so với cùng kỳ. Đây cũng là địa phương duy nhất trên cả nước ghi nhận tổng vốn FDI đăng ký vượt mốc 10 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026.

Thành phố thu hút 1.235 dự án mới với tổng vốn đăng ký 3,68 tỷ USD. Vốn bổ sung của 189 lượt dự án đạt gần 3,5 tỷ USD; giá trị của 1.224 giao dịch góp vốn, mua cổ phần đạt 3,17 tỷ USD.

Đứng thứ hai là Thái Nguyên với tổng vốn FDI đăng ký ước đạt 8,07 tỷ USD, chiếm 21,19% tổng vốn FDI đăng ký của cả nước. So với cùng kỳ, số vốn vào địa phương này tăng tới 2.263%, tức gấp hơn 23 lần.

Địa phương có 20 dự án mới với tổng vốn đăng ký gần 5,8 tỷ USD. Bên cạnh đó, 19 lượt dự án điều chỉnh đã bổ sung khoảng 2,23 tỷ USD; hoạt động góp vốn, mua cổ phần mang lại hơn 35 triệu USD.

Hà Nội đứng thứ ba với tổng vốn đăng ký hơn 3,62 tỷ USD, chiếm 9,52% tổng vốn cả nước. Theo sau là Bắc Ninh với tổng vốn FDI đăng ký đạt 3,23 tỷ USD, chiếm 8,49% tổng vốn cả nước.

Nghệ An đứng thứ năm với tổng vốn đăng ký đạt 2,38 tỷ USD, chiếm 6,26% tổng vốn cả nước và tăng 677,7% so với cùng kỳ.

Tổng vốn đăng ký của năm địa phương dẫn đầu đạt gần 27,65 tỷ USD, chiếm 72,64% tổng vốn FDI đăng ký của Việt Nam trong 7 tháng năm 2026. Riêng TP.HCM và Thái Nguyên thu hút tổng cộng 18,41 tỷ USD, tương đương 48,37% tổng vốn cả nước. Điều này đồng nghĩa với việc gần một nửa dòng vốn đăng ký tập trung tại hai địa phương.