Bảo hiểm

Địa phương chủ động cân đối nguồn hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp

-

Nghị định 346/2026/NĐ-CP vừa có hiệu lực, quy định việc lập dự toán, bố trí ngân sách và trách nhiệm của địa phương trong hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp.

Chủ động bố trí nguồn lực thực hiện chính sách

Theo Nghị định 346/2026/NĐ-CP (Nghị định) của Chính phủ, cùng với thời gian lập dự toán ngân sách hằng năm, căn cứ số lượng tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc đối tượng được hỗ trợ theo quyết định của UBND cấp tỉnh và nhu cầu tham gia bảo hiểm, Sở Nông nghiệp và Môi trường dự kiến kinh phí hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp và kinh phí tuyên truyền về chính sách bảo hiểm nông nghiệp.

Địa phương chủ động cân đối nguồn hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp - Ảnh 1.

Chính sách mới về bảo hiểm nông nghiệp quy định trách nhiệm của địa phương trong bố trí ngân sách và tổ chức thực hiện hỗ trợ phí bảo hiểm. (Ảnh có sử dụng AI).

Dự toán được gửi Sở Tài chính tổng hợp, xác định rõ phần ngân sách địa phương phải cân đối và phần ngân sách Trung ương hỗ trợ theo quy định, báo cáo UBND cấp tỉnh cùng với dự toán chi ngân sách địa phương.

Theo Điều 3 Nghị định 346/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp bảo hiểm được chủ động, tự chịu trách nhiệm xây dựng, thiết kế và phát triển sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp, bảo đảm tuân thủ Luật Kinh doanh bảo hiểm và các quy định pháp luật liên quan.

Đối với sản phẩm thực hiện chính sách hỗ trợ, đối tượng và rủi ro được bảo hiểm phải thuộc phạm vi được hỗ trợ theo quy định tại Điều 18, Điều 20 và Điều 22 Nghị định 58/2018/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung.

Điều 5 Nghị định 346/2026/NĐ-CP quy định mức hỗ trợ tối đa: 95% phí bảo hiểm đối với cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo. 50% phí bảo hiểm đối với cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo. 30% phí bảo hiểm đối với tổ chức sản xuất nông nghiệp đáp ứng điều kiện theo quy định.


Sau khi có ý kiến của Thường trực HĐND cấp tỉnh, UBND cấp tỉnh gửi dự toán chi ngân sách địa phương đến Bộ Tài chính, Kiểm toán nhà nước theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.

Bên cạnh việc lập dự toán, Nghị định sửa đổi, bổ sung trách nhiệm của UBND cấp tỉnh. Theo đó, căn cứ dự toán ngân sách đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, địa phương bố trí ngân sách để thực hiện hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp, cấp kinh phí hỗ trợ theo quy định và bố trí kinh phí cho hoạt động tuyên truyền về chính sách bảo hiểm nông nghiệp.

UBND cấp tỉnh còn có trách nhiệm hướng dẫn, ban hành theo thẩm quyền các quy trình, quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp phù hợp với địa phương; phối hợp giám sát, đánh giá tổn thất, thiệt hại khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

Đối với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Nghị định bổ sung trách nhiệm tổ chức kiểm tra, chỉ đạo các địa phương trong việc tuân thủ quy trình, quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật sản xuất nông nghiệp tại những địa bàn triển khai bảo hiểm.

Bộ cũng có trách nhiệm chủ trì xây dựng, quản lý và chia sẻ cơ sở dữ liệu chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước phục vụ bảo hiểm nông nghiệp theo quy định pháp luật.

Ở cấp cơ sở, UBND cấp xã có trách nhiệm tuyên truyền, vận động tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp tham gia bảo hiểm; phối hợp với doanh nghiệp bảo hiểm và cơ quan chuyên môn hướng dẫn người sản xuất kiểm soát rủi ro, đề phòng, hạn chế tổn thất và phòng, chống gian lận bảo hiểm.

Hồ sơ hưởng hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp gồm những gì?

Nghị định cũng quy định hồ sơ, trình tự và thủ tục phê duyệt đối tượng được hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp.

Theo đó, hồ sơ đề nghị phê duyệt gồm đơn đề nghị xem xét, phê duyệt đối tượng được hỗ trợ theo Mẫu số 01 và bản kê khai cây trồng, vật nuôi, nuôi trồng thủy sản theo Mẫu số 02 ban hành kèm Nghị định.

Đối với tổ chức sản xuất nông nghiệp, hồ sơ còn phải có tài liệu chứng minh thuộc đối tượng được hỗ trợ, gồm giấy tờ đăng ký doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã hoặc liên hiệp hợp tác xã và tài liệu chứng minh đáp ứng điều kiện về liên kết sản xuất, chất lượng sản phẩm hoặc ứng dụng công nghệ cao theo quy định.

Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính không yêu cầu cung cấp lại thành phần hồ sơ khi thông tin đã có trong các cơ sở dữ liệu được cơ quan chủ quản công bố. Trường hợp không khai thác được hoặc thông tin chưa đầy đủ, không chính xác, cơ quan tiếp nhận có thể yêu cầu bổ sung.

Về trình tự, trong vòng 60 ngày kể từ ngày văn bản của HĐND cấp tỉnh quy định chính sách hỗ trợ có hiệu lực, tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp lập hồ sơ gửi đến UBND cấp xã nơi thực hiện sản xuất. Hồ sơ có thể được nộp trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến khi điều kiện cho phép.

Trường hợp tổ chức sản xuất nông nghiệp hoạt động tại nhiều xã, hồ sơ được gửi đến UBND cấp xã nơi đăng ký thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã.

Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, UBND cấp xã rà soát, tổng hợp, thẩm định danh sách tổ chức, cá nhân đề nghị hỗ trợ và gửi Sở Nông nghiệp và Môi trường.

Trong 5 ngày làm việc kể từ khi nhận báo cáo thẩm định của UBND cấp xã, Sở Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp, báo cáo UBND cấp tỉnh. Trong 5 ngày làm việc tiếp theo, kể từ khi nhận báo cáo của Sở, UBND cấp tỉnh ban hành quyết định phê duyệt danh sách đối tượng được hỗ trợ.

Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ khi có quyết định phê duyệt, UBND cấp xã niêm yết công khai danh sách tại trụ sở, thông báo trên hệ thống thông tin, truyền thông của xã và sao gửi cho tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp khi có yêu cầu.

Sau đợt phê duyệt lần đầu, Nghị định còn quy định việc xem xét các đề nghị mới hằng tháng, đồng thời rà soát, điều chỉnh danh sách đối tượng đã được hỗ trợ khi có thay đổi.

Trước đó, Báo Xây dựng đã triển khai tuyến bài phản ánh những khó khăn trong phục hồi sản xuất nông nghiệp sau thiên tai, đồng thời đặt vấn đề về vai trò của bảo hiểm nông nghiệp trong việc chia sẻ rủi ro với người sản xuất. Việc Nghị định 346/2026/NĐ-CP có hiệu lực đánh dấu bước chuyển từ đề xuất sang quy định chính thức, mở ra giai đoạn triển khai và kiểm chứng hiệu quả chính sách trong thực tiễn.