Đường bộ

Định hình mạng lưới cao tốc sau sáp nhập tỉnh, thành

-

Sau sáp nhập tỉnh, thành, nhu cầu kết nối liên vùng, nhất là đầu tư các tuyến cao tốc càng cấp thiết để mở không gian phát triển.

Trong bối cảnh đó, Quy hoạch mạng lưới đường bộ đã được Bộ Xây dựng nghiên cứu, cập nhật điều chỉnh, bảo đảm phát huy tính chủ động của địa phương.

Phá thế bế tắc kết nối liên vùng

Gần hai tháng sau khi quyết định điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Bộ Xây dựng ban hành, tỉnh Lai Châu đã cơ bản hoàn thiện việc rà soát, cập nhật và phê duyệt điều chỉnh quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Định hình mạng lưới cao tốc sau sáp nhập tỉnh, thành - Ảnh 1.

Trong đó, hệ thống đường bộ cao tốc quy hoạch gồm 4 tuyến: Bảo Hà - Lai Châu (CT13); Lào Cai - Sa Pa - Lai Châu kết nối tỉnh Lào Cai; Lai Châu - Sơn La kết nối với tỉnh Sơn La; Điện Biên - Lai Châu kết nối với tỉnh Điện Biên.

Ông Nguyễn Sỹ Cảnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu cho biết, ưu tiên trước mắt đến năm 2030 của địa phương là cân đối nguồn lực đầu tư cao tốc CT13.

Tuyến sẽ tạo kết nối đồng bộ giữa cao tốc Nội Bài - Lào Cai với trung tâm tỉnh Lai Châu và khu vực cửa khẩu Ma Lù Thàng, từng bước hình thành trục giao thông liên vùng, liên vận quốc tế, mở rộng kết nối kinh tế giữa vùng Tây Bắc với vùng Thủ đô, hệ thống cảng biển Hải Phòng - Quảng Ninh, khu vực Tây Nam Trung Quốc.

Dự án có quy mô đầu tư rất lớn, vượt xa khả năng cân đối của ngân sách địa phương, nguồn lực chủ yếu sẽ đề xuất từ ngân sách Trung ương và các nguồn vốn hợp pháp khác. Mặc dù vậy, tỉnh sẽ nghiên cứu khả năng bố trí phần vốn thuộc trách nhiệm địa phương, nhất là giải phóng mặt bằng và các dự án kết nối.

Tại lần điều chỉnh mới nhất quy hoạch đường bộ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, mạng lưới cao tốc qua địa bàn tỉnh Sơn La cũng có sự đột phá lớn với các tuyến: Hà Nội - Hòa Bình - Sơn La - Điện Biên (CT03); Vành đai miền núi phía Bắc (CT12); Vành đai trung du phía Bắc (CT43).

Theo ông Hoàng Mạnh Thắng, Phó Giám đốc Ban QLDA đầu tư xây dựng các công trình giao thông tỉnh Sơn La, tuyến cao tốc Hà Nội - Hòa Bình - Sơn La - Điện Biên không chỉ thúc đẩy kết nối các trung tâm kinh tế và cửa khẩu quốc tế mà còn góp phần từng bước hình thành mạng lưới đường bộ cao tốc khu vực Tây Bắc.

Ưu tiên các hành lang vận tải chủ lực

Theo Quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 điều chỉnh được Bộ Xây dựng phê duyệt, hệ thống đường cao tốc bổ sung quy hoạch mới 5 tuyến: Vành đai miền núi phía Bắc; Vành đai trung du phía Bắc; Hà Tĩnh - Cầu Treo; Huế - A Lưới; Phan Thiết - Bảo Lộc - Gia Nghĩa - Bu Prăng.

Định hình mạng lưới cao tốc sau sáp nhập tỉnh, thành - Ảnh 2.

7 tuyến/đoạn tuyến được điều chỉnh phạm vi, gồm: Cao tốc Bắc - Nam phía Tây; Hà Nội - Lào Cai; Hà Nội - Thái Nguyên - Bắc Kạn - Cao Bằng; Vành đai 5 Hà Nội; Vũng Áng - Cha Lo; Phan Rang - Liên Khương - Buôn Ma Thuột; Thành phố Hồ Chí Minh - Vĩnh Long - Cần Thơ - Cà Mau.

Cả nước dự kiến có gần 4.600km cao tốc vào năm 2027

Theo quy hoạch, đến năm 2050, cả nước sẽ có 46 tuyến đường bộ cao tốc, tổng chiều dài 10.106km. Đến nay, có 3.345km đã đưa vào khai thác và thông xe kỹ thuật; đang thi công 1.252km. Trường hợp các dự án đang thi công triển khai đúng tiến độ yêu cầu, đến năm 2027, cả nước có khoảng 4.597km đường bộ cao tốc. Dự kiến đến năm 2030, tổng chiều dài đường bộ cao tốc sẽ trên 5.000km.

7 tuyến/đoạn tuyến được điều chỉnh tiến trình đầu tư gồm: Cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Ngọc Hồi - Gia Nghĩa; Bảo Hà - Lai Châu; Nội Bài - Bắc Ninh - Hạ Long; Vũng Áng - Cha Lo; Phú Yên - Đắk Lắk đoạn Phú Yên - Buôn Hồ; Nha Trang - Liên Khương; Thành phố Hồ Chí Minh - Vĩnh Long - Cần Thơ - Cà Mau.

Theo ông Lưu Quang Thìn, Phó vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ Xây dựng), các tuyến ưu tiên đầu tư trong giai đoạn này trước hết là các tuyến đã được xác định trong danh mục dự án thuộc Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, gồm: Cầu Cần Thơ 2; Hòa Bình - Sơn La - Điện Biên; Bắc Kạn - Cao Bằng; Bảo Hà - Lai Châu; Vinh - Thanh Thủy; Quảng Ngãi - Kon Tum; Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội; Vành đai 4 TP.HCM. Tuy nhiên, cần đánh giá hiệu quả đầu tư theo Kết luận số 18-KL/TW để quyết định chủ trương đầu tư.

Các tuyến cao tốc ưu tiên nêu trên khi hoàn thành sẽ cơ bản định hình mạng lưới đường bộ cao tốc quốc gia theo quy hoạch, hình thành các hành lang vận tải chủ lực Bắc - Nam và Đông - Tây, tạo động lực tăng trưởng mới cho các địa phương.

Trong đó, toàn bộ tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông được nối thông từ Lạng Sơn đến Cà Mau, kết nối trực tiếp các trung tâm kinh tế, đô thị lớn, cảng biển và cửa khẩu dọc theo trục dọc quốc gia.

Toàn bộ 34/34 tỉnh, thành phố đều có đường bộ cao tốc đưa vào khai thác, góp phần bảo đảm phát triển cân đối, hài hòa giữa các vùng miền.

Hệ thống đường vành đai của hai đô thị đặc biệt (Thủ đô Hà Nội và TP.HCM) được hoàn thiện, góp phần giảm áp lực giao thông nội đô, phân bổ lại luồng vận tải liên vùng, mở rộng không gian phát triển đô thị - công nghiệp.

Các trục Đông - Tây được hình thành, kết nối vùng Tây Nguyên, Tây Bắc và khu vực biên giới với các cảng biển, cảng hàng không, cửa khẩu quốc tế, khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai, khoáng sản, nông - lâm nghiệp và du lịch của các vùng còn nhiều dư địa phát triển.

Linh hoạt huy động nguồn lực

Lãnh đạo Vụ Kế hoạch - Tài chính cho biết, theo Quy hoạch được phê duyệt, sơ bộ nhu cầu vốn đầu tư toàn mạng lưới đường bộ giai đoạn 2021 - 2030 khoảng 2,2 triệu tỷ đồng. Trong đó, giai đoạn 2021 - 2025 cần khoảng 870.000 tỷ đồng; giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 1,33 triệu tỷ đồng. Nhu cầu vốn này chưa tính đến nhu cầu mở rộng các tuyến cao tốc có quy mô phân kỳ.

Định hình mạng lưới cao tốc sau sáp nhập tỉnh, thành - Ảnh 3.

Phối cảnh tuyến cao tốc Quy Nhơn - Pleiku

Quy hoạch xác định huy động đa dạng các nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, trái phiếu Chính phủ, vốn vay ODA, vốn huy động ngoài ngân sách và các nguồn vốn hợp pháp khác. Vốn ngân sách nhà nước giữ vai trò hỗ trợ, dẫn dắt để thu hút tối đa nguồn lực xã hội và ưu tiên cho các tuyến có lưu lượng thấp, khó thu hồi vốn.

Bộ Xây dựng đang chủ trì, phối hợp với các địa phương liên quan nghiên cứu, tổ chức Hội nghị xúc tiến đầu tư nhằm giới thiệu, kêu gọi các nhà đầu tư tham gia các dự án cao tốc theo các phương thức phù hợp, thời gian vào đầu tháng 10/2026. Trên cơ sở đó, sẽ xác định khả năng huy động vốn ngoài ngân sách.

Riêng việc bố trí vốn ngân sách địa phương, các địa phương có nguồn thu lớn, tự cân đối được ngân sách có thể tham gia với tỷ lệ cao, kể cả phần chi phí xây lắp.

Ngược lại, các địa phương miền núi, biên giới, nguồn thu thấp, chủ yếu nhận bổ sung cân đối từ ngân sách Trung ương thì mức tham gia hạn chế, chủ yếu tập trung cho công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Tăng kết nối với vùng trời, cửa biển

Không để quy hoạch nằm trên giấy, cả hệ thống chính trị tỉnh Gia Lai đang vào cuộc, hiện thực hóa bằng sản phẩm cụ thể, đặc biệt là tuyến cao tốc Quy Nhơn - Pleiku (dài 125km).

Ông Nguyễn Tự Công Hoàng, Phó chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai cho biết, tuyến cao tốc Quy Nhơn - Pleiku giữ vai trò quan trọng trong vận chuyển hàng hóa từ cảng Quy Nhơn, cảng Phù Mỹ lên khu vực phía Tây, qua Campuchia và các nước khác trong khu vực, giảm tải cho tuyến QL19 hiện nay; vận chuyển hành khách từ sân bay Phù Cát đến khu vực phía Tây tỉnh Gia Lai.

Trọng tâm trước mắt của tỉnh là hoàn thành cao tốc Quy Nhơn - Pleiku; nghiên cứu đầu tư đoạn Pleiku - Lệ Thanh, từng bước hình thành tuyến cao tốc CT.20 (Quy Nhơn - Pleiku - Lệ Thanh), kết nối cảng biển với Cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh; Đồng thời, nghiên cứu triển khai cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Pleiku - Buôn Ma Thuột - Gia Nghĩa, hướng tới hoàn thiện mạng lưới kết nối giữa các trục Bắc - Nam, Đông - Tây để thúc đẩy thông thương, phát triển du lịch.