Xã hội

Doanh nghiệp chỉ được thu phí khi lao động xuất khẩu đã được tiếp nhận, ký hợp đồng

-

Sáng 24/8, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng với 476/477 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027.

Trước khi Quốc hội biểu quyết, báo cáo tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo Luật, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Hải cho biết, Chính phủ đã rà soát, chỉnh lý theo hướng bảo đảm các quy định rõ ràng, chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật; đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và thực tiễn, đồng thời bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, tổ chức, doanh nghiệp, phù hợp với đặc thù trong lĩnh vực đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Chờ xuất cảnh không quá 180 ngày, doanh nghiệp phải bồi thường nếu vi phạm cam kết - Ảnh 2.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Hải. Ảnh: Media Quốc hội.

Để bảo vệ quyền lợi người lao động, dự thảo Luật quy định thời gian chờ xuất cảnh sau khi người lao động trúng tuyển đi làm việc ở nước ngoài không quá 180 ngày kể từ ngày người lao động trúng tuyển. 

Trường hợp doanh nghiệp không thực hiện đúng cam kết về thời gian chờ xuất cảnh thì phải bồi thường theo thỏa thuận và hoàn trả tiền dịch vụ thu từ người lao động, các khoản thu khác người lao động đã nộp. Dự thảo đồng thời giao Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định thời hạn bồi thường, hoàn trả tiền cho người lao động.

Chờ xuất cảnh không quá 180 ngày, doanh nghiệp phải bồi thường nếu vi phạm cam kết - Ảnh 3.

Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng với 476/477 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành. Ảnh: Media Quốc hội.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 4 theo hướng ưu tiên đưa người lao động đã qua đào tạo và có trình độ chuyên môn kỹ thuật đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nhằm nâng cao thu nhập, rèn luyện kỹ năng, tiếp cận công nghệ, quản trị hiện đại, ngoại ngữ, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp.

Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trong một số ngành, nghề, công việc yêu cầu trình độ chuyên môn kỹ thuật hoặc lĩnh vực Nhà nước ưu tiên phát triển được hưởng cơ chế, chính sách đặc thù để đi làm việc ở nước ngoài và thu hút, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực sau khi về nước phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ.

Đặc biệt, Luật bổ sung một số điều nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người lao động. Theo đó, Điều 18 về chuẩn bị nguồn lao động quy định doanh nghiệp dịch vụ được chủ động chuẩn bị nguồn lao động trước khi đăng ký hợp đồng cung ứng lao động theo nhu cầu của doanh nghiệp, thị trường tiếp nhận và khả năng ký kết hợp đồng cung ứng lao động.

Doanh nghiệp dịch vụ ký kết bằng văn bản với người lao động về việc tham gia chuẩn bị nguồn lao động, trong đó phải có các nội dung sau đây: mức phí đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ và các khoản thu khác (nếu có); dự kiến thị trường, ngành nghề, tiêu chuẩn, thời gian tuyển chọn; cam kết việc ưu tiên tuyển chọn người lao động đã tham gia chuẩn bị nguồn lao động; trách nhiệm của các bên trong trường hợp người lao động không được bên nước ngoài tiếp nhận lao động tuyển chọn hoặc chấm dứt việc tham gia chuẩn bị nguồn lao động trước thời hạn.

Doanh nghiệp dịch vụ chỉ được thu phí đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ sau khi người lao động đã được bên nước ngoài tiếp nhận lao động tuyển chọn và ký kết hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.

Doanh nghiệp dịch vụ thông báo bằng văn bản đến UBND cấp xã nơi doanh nghiệp tổ chức hoạt động chuẩn bị nguồn lao động và cập nhật trên cơ sở dữ liệu về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng chậm nhất 3 ngày trước ngày thực hiện chuẩn bị nguồn lao động.

UBND cấp xã có trách nhiệm công khai thông báo việc chuẩn bị nguồn lao động đã tiếp nhận, theo dõi hoạt động chuẩn bị nguồn lao động trên địa bàn; xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyển đến cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật khi phát hiện tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động chuẩn bị nguồn lao động không đúng nội dung đã thông báo hoặc có hành vi vi phạm pháp luật khác.