Doanh nghiệp Việt học gì từ hành trình toàn cầu của Toyota, Samsung, Haier?
Từ câu chuyện thành công của Toyota, Samsung và Haier, lãnh đạo Cục Xúc tiến thương mại nhấn mạnh, doanh nghiệp Việt cần vượt ra khỏi mục tiêu xuất khẩu hàng hóa, từng bước xây dựng thương hiệu và vị thế trên thị trường quốc tế.
Bài học từ những thương hiệu toàn cầu
Hành trình từ một nhà máy tủ lạnh bên bờ phá sản trở thành thương hiệu gia dụng toàn cầu của Haier được ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công thương), chia sẻ tại Diễn đàn Xúc tiến xuất khẩu Việt Nam 2026, ngày 4/11, với chủ đề “Go Global - Cùng doanh nghiệp vươn ra thế giới”.

Ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại.
Giữa thập niên 1980, Haier là nhà máy tủ lạnh nhỏ tại Thanh Đảo (Trung Quốc), kinh doanh thua lỗ, chất lượng sản phẩm thấp. Năm 1985, phát hiện 76 chiếc tủ lạnh lỗi, người đứng đầu yêu cầu công nhân đập bỏ, dù mỗi chiếc có giá trị bằng nhiều tháng lương.
Theo ông Phú, quyết định này khẳng định chất lượng là yếu tố sống còn. Haier sau đó thâm nhập các thị trường khó tính, xây dựng nhà máy tại Mỹ vào cuối thập niên 1990. Năm 2016, hãng mua lại mảng gia dụng của General Electric với giá khoảng 5,4 tỷ USD.
Bài học từ Haier là lấy chất lượng làm nền tảng, đồng thời tận dụng mua bán, sáp nhập (M&A) để tiếp cận thương hiệu và hệ thống phân phối quốc tế.
Toyota cũng từng thất bại khi bước ra thế giới. Năm 1957, mẫu Toyopet Crown xuất khẩu sang Mỹ gần như không được đón nhận do động cơ yếu, dễ nóng máy và không phù hợp thị hiếu.
Thay vì rút lui, Toyota nghiên cứu thị trường, cải tiến sản phẩm và phương thức sản xuất. Sau đó, Corolla trở thành một trong những mẫu xe bán chạy nhất mọi thời đại. Năm 1989, hãng ra mắt Lexus, cạnh tranh với các thương hiệu ô tô châu Âu.
Trong khi đó, Samsung Electronics, thành lập năm 1969, khởi đầu với tivi đen trắng và học hỏi công nghệ từ đối tác Nhật Bản. Năm 1983, tập đoàn mạnh dạn đầu tư vào chip nhớ bán dẫn. Đến năm 1993, Samsung chuyển chiến lược từ chạy theo số lượng sang chú trọng chất lượng, thương hiệu, từng bước khẳng định vị thế công nghệ toàn cầu.
Ông Phú nhấn mạnh, điểm chung của ba thương hiệu là không doanh nghiệp nào có sẵn vị thế quốc tế. Thành công đến từ chất lượng, khả năng học hỏi thị trường, đầu tư công nghệ và chiến lược dài hạn.
Doanh nghiệp Việt vươn ra thế giới bằng cách nào?
Theo ông Phú, Việt Nam đang đứng trước bước chuyển mới trong hội nhập kinh tế. Sau gần 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã có mạng lưới 18 hiệp định thương mại tự do (FTA). Đến hết tháng 10/2026, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 1.010,6 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 499 tỷ USD.
Một số doanh nghiệp đã khẳng định vị thế quốc tế. Viettel đầu tư tại 10 thị trường, dẫn đầu thị phần tại 7 thị trường, doanh thu quốc tế năm 2025 khoảng 3,3 tỷ USD. FPT đạt hơn 35.000 tỷ đồng doanh thu công nghệ thông tin ở nước ngoài, giá trị hợp đồng ký mới vượt 1,5 tỷ USD.
Tuy nhiên, yêu cầu về chất lượng, tiêu chuẩn, phát triển xanh, truy xuất nguồn gốc ngày càng cao, trong khi chuỗi cung ứng toàn cầu đang được sắp xếp lại.
Vì thế, theo lãnh đạo Cục Xúc tiến thương mại, vấn đề không chỉ là xuất khẩu thêm bao nhiêu, mà doanh nghiệp Việt giữ vị trí nào trong chuỗi giá trị, sở hữu thương hiệu gì và hiện diện đến đâu trên thị trường quốc tế.
Từ bài học của Haier, Toyota và Samsung, ông Phú cho rằng, doanh nghiệp Việt không cần chờ đủ lớn mới nghĩ đến thị trường quốc tế. Nếu trước đây hội nhập chủ yếu đưa hàng hóa Việt ra thế giới, thì nay cần hướng tới xây dựng thương hiệu và vị thế lâu dài trên thị trường toàn cầu.
Thứ trưởng Bộ Công thương Lương Hoàng Thái cho biết, trong thời gian dài, doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu hội nhập theo hướng thích ứng, đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế. Tuy nhiên, định hướng hiện nay là chuyển từ thích ứng sang chủ động vươn ra thế giới, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và khẳng định vị thế doanh nghiệp Việt.

Thứ trưởng Bộ Công thương Lương Hoàng Thái.
"Chương trình Go Global ra đời trong bối cảnh đó, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy và định hướng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam", Thứ trưởng nhấn mạnh.
Để hiện thực hóa mục tiêu, Bộ Công thương sẽ giữ vai trò đầu mối, cụ thể hóa chương trình thành các kế hoạch hành động, đồng thời đẩy mạnh phát triển thị trường, xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu và kết nối doanh nghiệp với đối tác quốc tế.
Đặc biệt, Thứ trưởng nhấn mạnh vai trò của các địa phương thông qua chương trình "Local Go Global". Theo đó, mỗi địa phương cần chủ động phát huy lợi thế, nắm bắt năng lực và nhu cầu của doanh nghiệp để xây dựng giải pháp hỗ trợ phù hợp.
Theo Quyết định 626, các tỉnh, thành phố phải ban hành chương trình hành động "Local Go Global" trong năm 2026. Đến nay, 18 địa phương đã thực hiện.
Thời gian tới, Bộ Công thương sẽ tiếp tục phối hợp với các địa phương triển khai chương trình có trọng tâm, trọng điểm, hướng tới kết quả thiết thực, đưa "Local Go Global" trở thành cầu nối giữa chiến lược quốc gia và hành động cụ thể tại địa phương.
Cụ thể, năm 2026 tập trung khảo sát nhu cầu doanh nghiệp, xây dựng dữ liệu, công cụ và cơ chế hỗ trợ. Các chương trình đào tạo, tư vấn được thiết kế từ nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.
Năm 2027, Bộ Công thương dự kiến đưa vào vận hành ba công cụ trọng tâm. Trong đó, GoGlobal Index đánh giá mức độ sẵn sàng vươn ra quốc tế, làm cơ sở phân nhóm và lựa chọn doanh nghiệp hỗ trợ.
GoGlobal Platform, dự kiến vận hành ổn định từ quý II/2027, sẽ kết nối doanh nghiệp với chuyên gia, đối tác, tổ chức hỗ trợ kinh doanh và hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài.
Cùng với đó, chương trình triển khai đào tạo, tư vấn theo khung thống nhất và lựa chọn doanh nghiệp được hỗ trợ chuyên sâu.
Giai đoạn 2028-2030, các mô hình hiệu quả sẽ được nhân rộng, đồng thời đánh giá định kỳ để điều chỉnh hoạt động hỗ trợ.
Ngày 6/4/2026, Thủ tướng phê duyệt Chương trình Go Global nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt mở rộng đầu tư, kinh doanh quốc tế và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Đến năm 2030, chương trình đặt mục tiêu đào tạo 10.000 lượt doanh nghiệp, tư vấn kế hoạch quốc tế hóa cho 1.000 doanh nghiệp; hỗ trợ chuyên sâu 100 doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài, trong đó 30 doanh nghiệp thực hiện M&A.
Đồng thời, hỗ trợ 100 doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, gồm ít nhất 20 doanh nghiệp lớn thuộc các ngành mũi nhọn, chiến lược; hỗ trợ 100 doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả trên các sàn thương mại điện tử xuyên biên giới, trong đó ít nhất 10 doanh nghiệp đạt doanh thu xuất khẩu trực tuyến trên 10 triệu USD.