Văn hóa

Đồng đầu tư công nghiệp văn hóa: Không thể vừa chia sẻ rủi ro, vừa buộc bảo toàn vốn

-

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đề xuất Nhà nước đồng đầu tư với tư nhân. Theo luật sư Hoàng Hà, cần chấp nhận rủi ro có kiểm soát; dự án thua lỗ không đồng nghĩa sai phạm nếu đúng quy trình, đồng thời phải minh bạch để tránh xin - cho.

Báo Xây dựng đã có cuộc trò chuyện với luật sư Hoàng Hà (Đoàn Luật sư TP.HCM). Theo ông, vốn nhà nước phải được quản lý có kỷ luật: kiểm soát từ trước giải ngân, giải ngân theo giai đoạn, giám sát, kiểm toán, có cơ chế thoái vốn; Dự án thua lỗ không đồng nghĩa với sai phạm, bởi nếu đã đúng quy trình, trung thực, không vụ lợi thì không nên quy trách nhiệm chỉ vì dự án thất bại; Không thể vừa nói "chia sẻ rủi ro" vừa yêu cầu mọi dự án phải bảo toàn vốn.

Ngân sách nhà nước là "vốn mồi" cho công nghiệp văn hóa: Làm sao tránh cơ chế xin - cho? - Ảnh 1.

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được xây dựng theo hướng hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa đồng bộ, phát huy nguồn lực sáng tạo, tài sản trí tuệ, khoa học công nghệ và bản sắc văn hóa Việt Nam.

Nhà nước góp vốn cho công nghiệp văn hóa: Không thể chọn dự án bằng cảm tính

Từ góc độ pháp lý, luật sư Hoàng Hà đánh giá khoảng trống lớn nhất hiện nay trong việc huy động nguồn lực xã hội cho công nghiệp văn hóa là gì? Theo ông, Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đã giải quyết được những khoảng trống nào?a

Khoảng trống lớn nhất là thiếu cơ chế biến quyền sở hữu trí tuệ thành nguồn vốn. Các quy định về xác lập quyền, kế toán, định giá, góp vốn, giao dịch bảo đảm, tín dụng và xử lý tài sản còn phân tán, chưa tạo thành một quy trình thống nhất.

Doanh nghiệp thường vướng trước hết ở việc chứng minh chuỗi quyền sở hữu. Sáng chế, phần mềm hoặc công nghệ có thể được tạo ra bởi người lao động, nhà thầu, đối tác hoặc sử dụng mã nguồn, dữ liệu của bên thứ ba. 

Nếu quyền sở hữu, khai thác và chuyển giao không rõ, tài sản chưa đủ sạch để góp vốn hoặc thế chấp. Các rào cản tiếp theo là khó ghi nhận kế toán, thiếu dữ liệu định giá, khó chứng minh dòng tiền và thiếu thị trường để xử lý tài sản khi phát sinh nợ xấu.

Dự thảo đã xử lý một số khoảng trống bằng việc thiết lập mã định danh và hồ sơ số; cho phép dùng tài sản trí tuệ để góp vốn, bảo đảm tín dụng; kết nối dữ liệu đăng ký biện pháp bảo đảm; xây dựng cơ sở dữ liệu giá, sàn giao dịch và cơ chế chia sẻ rủi ro. 

Tuy nhiên dự thảo mới tạo khung và còn giao nhiều nội dung cho Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước. Chuẩn hồ sơ được ngân hàng chấp nhận, phương pháp định giá lại, thứ tự ưu tiên và xử lý tài sản khi có nợ xấu vẫn cần được làm rõ. Có thể nói, dự thảo đã nối được các mắt xích chính sách, nhưng chưa hoàn thiện cơ chế vận hành.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã hoàn thiện Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa và tổ chức lấy ý kiến từ ngày 5-24/8/2026.

Dự thảo gồm 9 Chương và 60 Điều quy định về phát triển công nghiệp văn hóa, quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Một trong những chính sách nổi bật của dự thảo là lần đầu đề xuất cơ chế đồng đầu tư nhà nước - tư nhân để phát triển tài sản trí tuệ gốc, sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm và sản phẩm đậm đà bản sắc Việt Nam.

Cơ chế này được thực hiện thông qua các hình thức góp vốn đối ứng, quỹ đầu tư mạo hiểm hoặc hợp đồng chia sẻ doanh thu.

Đây được xem là một trong những điểm mới đáng chú ý của dự thảo khi nhà nước không chỉ đóng vai trò hỗ trợ mà có thể tham gia cùng khu vực tư nhân để huy động thêm nguồn lực cho các dự án công nghiệp văn hóa.

Tuy nhiên, cơ chế đồng đầu tư cũng đặt ra những câu hỏi về tiêu chí lựa chọn dự án, mức độ tham gia của vốn nhà nước, cách thức chia sẻ rủi ro và trách nhiệm của các bên khi dự án không đạt mục tiêu.

Dự thảo đề xuất nhà nước có thể cùng góp vốn, mua cổ phần hoặc chia sẻ rủi ro với khu vực tư nhân để phát triển tài sản trí tuệ và sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm. Theo ông, việc xác định dự án nào được lựa chọn, mức độ nhà nước tham gia và trách nhiệm khi dự án thất bại cần được thiết kế như thế nào để vừa tránh cơ chế xin - cho, vừa không làm mất đi tính linh hoạt của đầu tư tư nhân?

Theo tôi cơ chế này phải thiết kế nhà nước như một nhà đồng đầu tư có kỷ luật, không phải cơ quan hành chính lựa chọn sản phẩm văn hóa theo cảm tính. 

Tiêu chí lựa chọn dự án cần công khai và lượng hóa, tập trung vào tình trạng pháp lý của tài sản trí tuệ, năng lực chủ đầu tư, vốn tư nhân đối ứng, tiềm năng thị trường, giá trị xã hội và sự cần thiết phải có vốn nhà nước. 

Việc thẩm định nên do hội đồng chuyên môn độc lập thực hiện. Thành viên phải công khai lợi ích liên quan, kết quả chấm điểm và lý do lựa chọn phải được công bố.

Vốn nhà nước phải có trần, gắn với tỷ lệ vốn tư nhân và giải ngân theo từng giai đoạn khi dự án đạt mốc cam kết. Nhà nước nên giữ vai trò "vốn mồi", không can thiệp vào sáng tạo và điều hành hằng ngày. Hợp đồng phải quy định trước cách chia sẻ lợi ích, rủi ro, quyền kiểm tra, thời hạn đầu tư và phương án thoái vốn.

Khi dự án thất bại, cần phân biệt rủi ro kinh doanh với sai phạm. Người quyết định và doanh nghiệp không nên bị quy trách nhiệm chỉ vì dự án thua lỗ nếu đã tuân thủ tiêu chí, thẩm quyền, quy trình, công khai xung đột lợi ích và không vụ lợi. 

Ngược lại, phải thu hồi vốn, ưu đãi và xử lý trách nhiệm nếu có gian dối, thông đồng hoặc sử dụng vốn sai mục đích. Tính linh hoạt phải đến từ hợp đồng và giám sát đầu ra, không phải từ việc giảm chuẩn kiểm soát.

Trong trường hợp có nhiều dự án cùng đáp ứng điều kiện, luật sư cho rằng, cần ưu tiên dự án dựa trên những tiêu chí nào, chẳng hạn như: khả năng tạo giá trị kinh tế, hiệu quả xã hội, khả năng phát triển tài sản trí tuệ, yếu tố bản sắc Việt Nam hay khả năng dẫn dắt thị trường? Theo ông, những tiêu chí này cần được lượng hóa đến mức nào trong Luật để có thể áp dụng trên thực tế?

Theo tôi nên áp dụng cơ chế hai vòng. Vòng đầu kiểm tra quyền sở hữu trí tuệ, phương án kinh doanh, vốn tư nhân đối ứng, năng lực quản trị và xung đột lợi ích. Dự án không đạt thì không đưa vào xếp hạng. 

Vòng sau chấm điểm theo năm nhóm tiêu chí. Đó là khả năng tạo doanh thu và huy động vốn xã hội; khả năng hình thành, phát triển và giữ tài sản trí tuệ gốc tại Việt Nam; hiệu quả xã hội; khả năng mở rộng thị trường, xuất khẩu và dẫn dắt chuỗi giá trị; hàm lượng bản sắc Việt Nam.

Bản sắc không nên được đánh giá bằng cảm nhận chung chung. Có thể xem xét việc khai thác chất liệu văn hóa Việt Nam, sự tham gia của chủ thể sáng tạo Việt Nam, quyền tài sản được giữ lại trong nước và khả năng lan tỏa giá trị văn hóa. 

Tiêu chí này không được trở thành công cụ can thiệp vào tự do sáng tạo. Luật nên quy định các nhóm tiêu chí, nguyên tắc chấm điểm, ngưỡng tối thiểu và yêu cầu công khai, nhưng không nên ấn định cứng tỷ trọng cho mọi ngành. 

Chính phủ hoặc chương trình đầu tư có thể quy định trọng số phù hợp với từng lĩnh vực. Thang điểm phải được công bố trước khi nhận hồ sơ và không được thay đổi trong quá trình xét chọn. 

Kết quả chấm điểm, lý do lựa chọn và xung đột lợi ích cũng cần được công khai. Mức độ lượng hóa phải đủ để kiểm tra và so sánh, nhưng vẫn dành khoảng linh hoạt cho đặc thù sáng tạo của từng ngành.

Ngân sách nhà nước là "vốn mồi" cho công nghiệp văn hóa: Làm sao tránh cơ chế xin - cho? - Ảnh 2.

Luật sư Hoàng Hà (Đoàn Luật sư TP.HCM). (Ảnh: NVCC).

Cần cơ chế giám sát từ giải ngân đến thoái vốn   

Theo luật sự, khi nhà nước cùng chia sẻ rủi ro với doanh nghiệp, cơ chế kiểm soát việc sử dụng vốn, đánh giá hiệu quả dự án và xử lý trường hợp dự án không đạt mục tiêu cần được thiết kế ra sao? Đặc biệt, trách nhiệm của các bên nên được xác định như thế nào khi dự án thua lỗ hoặc không bảo toàn được phần vốn nhà nước?

Tôi cho rằng kiểm soát phải bắt đầu trước khi giải ngân. Hợp đồng đồng đầu tư cần xác định mục đích sử dụng vốn, khoản chi được phép, vốn đối ứng, mốc kết quả và quyền kiểm tra. Vốn nhà nước nên được quản lý riêng, giải ngân theo giai đoạn và chỉ tiếp tục khi dự án đạt cam kết.

Hiệu quả không thể chỉ đo bằng lợi nhuận. Cần đánh giá cả doanh thu, khả năng huy động vốn tư nhân, thương mại hóa tài sản trí tuệ, việc làm và mức độ lan tỏa văn hóa. Kết quả phải được kiểm toán, đánh giá độc lập và công khai phù hợp.

Nếu dự án không đạt mục tiêu, cần cảnh báo, yêu cầu khắc phục, tạm dừng giải ngân, cơ cấu lại, thoái vốn hoặc chấm dứt đầu tư. Chỉ thu hồi hỗ trợ khi doanh nghiệp vi phạm cam kết, báo cáo gian dối, sử dụng vốn sai mục đích hoặc có giao dịch vụ lợi.

Về trách nhiệm, doanh nghiệp chịu trách nhiệm quản lý và sử dụng vốn. Cơ quan, người quyết định chịu trách nhiệm về thẩm quyền, quy trình, thẩm định và xung đột lợi ích. Không nên quy trách nhiệm cá nhân chỉ vì dự án thua lỗ nếu các bên đã làm đúng quy trình, trung thực và không vụ lợi.

Đặc biệt, nguyên tắc bảo toàn vốn nhà nước nên được đánh giá theo danh mục và chu kỳ đầu tư, không cứng nhắc trên từng dự án. Nếu mọi dự án đều buộc phải bảo toàn vốn, cơ chế chia sẻ rủi ro sẽ mất ý nghĩa và người có thẩm quyền sẽ không dám quyết định.

Để dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa có thể đi vào đời sống, xin luật sư cho biết, dự thảo cần hoàn thiện nội dung nào trước khi chính thức trình Quốc hội vào tháng 10 sắp tới?

Theo tôi, trước hết cần làm rõ tiêu chí về tài sản trí tuệ gốc, sản phẩm trọng điểm, bản sắc Việt Nam, nhân lực chất lượng cao và dự án được nhà nước đồng đầu tư. Tiêu chí phải đủ cụ thể để hạn chế tùy nghi và cơ chế xin cho. 

Đồng thời, phải rà soát sự thống nhất với pháp luật về đầu tư, ngân sách, tài sản công, thuế, tín dụng, sở hữu trí tuệ và phá sản. Điều 58 không nên chỉ nêu sửa các luật liên quan "theo hướng", mà phải xác định rõ điều khoản, nội dung sửa và thời điểm áp dụng.

Các cơ chế định giá tài sản trí tuệ, nhận tài sản bảo đảm, đồng đầu tư và chia sẻ rủi ro phải có quy trình từ lựa chọn, giải ngân, giám sát đến xử lý nợ xấu và thoái vốn. Cần công khai tiêu chí, kết quả lựa chọn, xung đột lợi ích, kiểm toán và trách nhiệm khi có gian dối hoặc sử dụng vốn sai mục đích.

Cuối cùng, dự thảo phải bổ sung điều khoản chuyển tiếp, lộ trình xây dựng cơ sở dữ liệu, nguồn ngân sách, cơ quan chịu trách nhiệm và thời hạn ban hành văn bản hướng dẫn. Nếu chưa rõ những nội dung này, luật có thể tạo kỳ vọng lớn nhưng khi có hiệu lực vẫn phải chờ nghị định, thông tư mới thực hiện được.

Xin cảm ơn ông!

Tại Hội thảo lấy ý kiến góp ý Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa ở Hà Nội, ông Nguyễn Trường Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam, đề nghị ban soạn thảo làm rõ khái niệm "đồng đầu tư" được sử dụng trong dự thảo.

Theo ông, đây là khái niệm mới trong pháp luật Việt Nam, chưa từng được sử dụng trước đây, nên cần làm rõ "đồng đầu tư" có khác với "hợp tác đầu tư" hay không và tại sao dự thảo lựa chọn khái niệm "đồng đầu tư" thay vì "hợp tác đầu tư".

Trả lời vấn đề này, ông Nguyễn Huy Dũng, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết trong quá trình xây dựng dự thảo, ban soạn thảo cũng băn khoăn về khái niệm "đồng đầu tư".

Theo thứ trưởng, khái niệm này được tham khảo từ kinh nghiệm nước ngoài, trong đó có khái niệm "co-investment" được dịch thành "đồng đầu tư".

Ông Nguyễn Huy Dũng cũng nhắc đến kinh nghiệm tại Trung Quốc. Cụ thể, khi nhà nước xác định một lĩnh vực là ưu tiên, nhà nước có thể rót vốn vào một quỹ tư nhân, sau đó quỹ tư nhân đầu tư vào lĩnh vực đó và thu hút các quỹ tư nhân khác cùng tham gia.

Khi hoạt động kinh doanh có lãi, nhà nước ưu tiên cho các quỹ tư nhân mua lại phần sở hữu của nhà nước với giá ban đầu cộng lãi suất, thay vì tính theo giá trị tăng lên của khoản đầu tư.

Theo Thứ trưởng, đây là cách Trung Quốc sử dụng vốn nhà nước làm "vốn mồi" và chia sẻ rủi ro với thị trường trong những lĩnh vực được ưu tiên.

"Về việc sử dụng khái niệm "đồng đầu tư" hay "hợp tác đầu tư" trong dự thảo, ban soạn thảo sẽ tiếp tục nghiên cứu và báo cáo. Việc chuẩn hóa khái niệm này, cần có sự tham gia của các nhà lập pháp, luật sư, các nhà nghiên cứu và tổ biên tập, ban soạn thảo", ông Nguyễn Huy Dũng nói.