Thị trường

Giải phóng sức sản xuất, gỡ điểm nghẽn thể chế vi mô để kinh tế bứt phá

-

Khát vọng tăng trưởng hai con số đòi hỏi Việt Nam chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo. Giải phóng sức sản xuất, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế vi mô cho doanh nghiệp chính là động lực cốt lõi để nền kinh tế bứt phá trong giai đoạn mới.

Thách thức tăng trưởng hai chữ số và sức khỏe doanh nghiệp Việt

Khép lại nửa đầu năm 2026, GDP Việt Nam đạt 8,18%, mức tăng cao nhất trong 16 năm qua. Dù vậy, việc đặt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số giai đoạn 2026 – 2030 vẫn là bài toán đầy thách thức khi tốc độ tăng bình quân 20 năm qua (2006 – 2025) chỉ đạt 6,2% – 6,3%.

Tại diễn đàn "Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vi mô đột phá và mục tiêu hai con số", PGS.TS Nguyễn Mạnh Hùng đặt vấn đề: Khi không gian cho các chính sách vĩ mô truyền thống (nới lỏng tiền tệ, kích cầu tài khóa) đang hẹp lại để bảo đảm an toàn hệ thống, động lực tăng trưởng tiếp theo sẽ đến từ đâu?

Trả lời câu hỏi này, các đại biểu đồng thuận rằng chính sách vi mô đột phá là lối ra duy nhất. Nếu vĩ mô giữ vai trò ổn định nền tảng, thì vi mô chính là "mạch dẫn" giải phóng sức sản xuất của doanh nghiệp.

Thực tế cho thấy doanh nghiệp trong nước đang rơi vào cảnh "khát" vốn nhưng khó hấp thụ, muốn chuyển đổi số nhưng vướng mắc thể chế và chi phí tuân thủ. Do đó, các chính sách vi mô cần được đánh giá thận trọng về chi phí – lợi ích, tập trung giảm chi phí giao dịch, quản lý rủi ro và kiến tạo không gian cho đổi mới sáng tạo.

Báo cáo từ Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) ghi nhận bức tranh đa chiều: Trong 6 tháng đầu năm, số doanh nghiệp báo lỗ vẫn cao hơn số doanh nghiệp báo lãi; số doanh nghiệp giải thể ước tính tăng tới 94,7% so với cùng kỳ. Tính đến giữa năm, có tới 70% doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng; 81,4% doanh nghiệp sử dụng dưới 10 lao động. Tỷ suất lợi nhuận bình quân của doanh nghiệp chỉ đạt 2,2% (năm 2022), thấp hơn cả lãi suất tiền gửi ngân hàng.

img

Diễn đàn "Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vi mô đột phá và mục tiêu hai con số".

Nhìn vào mục tiêu của chương trình Nghị quyết 68 hướng tới năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động, Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới đánh giá đây là thách thức vô cùng lớn. Trong 10 năm qua (2016 – 2025), chưa có năm nào số doanh nghiệp ròng tăng thêm vượt quá con số 100.000. Muốn đạt mốc 2 triệu vào năm 2030, mỗi năm nền kinh tế phải tạo mới thực chất ít nhất 200.000 doanh nghiệp, một con số bất khả thi nếu giữ nguyên cách vận hành và thể chế hiện tại.

Diễn đàn đã đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá nhằm kích hoạt tăng trưởng: Thể chế đột phá: Áp dụng cho các khu kinh tế, khu thương mại tự do và trung tâm tài chính quốc tế. Tài chính – Thuế: Đổi mới chính sách thuế và tài khóa hỗ trợ tăng trưởng. Dòng vốn: Tháo gỡ điểm nghẽn bằng chính sách tín dụng linh hoạt. Công nghệ mới: Trí tuệ nhân tạo (AI) được xác định là động lực tăng trưởng mới.

Tạo dựng môi trường kinh doanh vượt trội: Bài toán từ tư duy đến hành động

GS.TS Lê Văn Lợi, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam khẳng định, để các đột phá vi mô thực sự trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng hai con số, chính sách cần phải xoay quanh ba yêu cầu có tính chất bước ngoặt: Đó là, chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển: Thể chế không chỉ nhằm ngăn ngừa rủi ro mà phải mở đường cho sáng tạo, cạnh tranh và đầu tư. Những gì thị trường và doanh nghiệp làm tốt, Nhà nước cần tạo khuôn khổ, giám sát và bảo đảm cạnh tranh lành mạnh thay vì can thiệp quá sâu vào quyết định kinh doanh.

Chuyển từ chính sách bình quân sang trọng tâm, trọng điểm: Đột phá không thể xảy ra bằng cách phân tán nguồn lực. Nguồn lực quốc gia phải được ưu tiên cho những ngành, doanh nghiệp, địa bàn và dự án có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa lớn, đồng thời kiên quyết loại bỏ những chính sách không còn hiệu quả.

Coi chất lượng thực thi là một bộ phận cấu thành chính sách: Một chủ trương đúng nhưng triển khai chậm, phát sinh thêm thủ tục thì chưa thể gọi là thành công. Trong kỷ nguyên mới, thời gian là nguồn lực; sự chậm trễ trong thực thi chính là một dạng lãng phí nghiêm trọng của nền kinh tế.

GS.TS Lê Văn Lợi nhấn mạnh, phải trả lời sòng phẳng ba câu hỏi: Điểm nghẽn nào đang được tháo gỡ? Năng lực sản xuất nào sẽ được giải phóng? Và kết quả có thể đo lường bằng chỉ tiêu cụ thể như thế nào?

Nói về thể chế đặc thù cho Đặc khu kinh tế và Khu thương mại tự ông Mạc Vũ Hưng, Giám đốc dự án Công ty tư vấn BCG cho biết, tính đến năm 2024, thế giới đã có gần 7.000 khu kinh tế và khu thương mại tự do, tăng tốc mạnh mẽ từ mốc 5.000 khu chỉ trong 8 năm. Sự bùng nổ này tạo ra sức ép cạnh tranh khốc liệt trong thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao.

Nhìn từ bài học thành công của Hải Nam, Thâm Quyến,…Trung Quốc hay Dubai, BCG đề xuất Việt Nam cần áp dụng 4 nguyên tắc và 4 trụ cột chính: Mô hình quản trị linh hoạt (Phân cấp, phân quyền thực chất; kết hợp mô hình công - tư; tăng quyền tự chủ cho Ban quản lý ra quyết định nhanh; Môi trường kinh doanh thông thoáng; Không gian tài chính vượt trội (Cơ chế mở về tiền tệ, cho phép tự do lưu chuyển nguồn vốn, chuyển đổi vốn đầu tư ra nước ngoài linh hoạt); Hệ sinh thái nhân tài cạnh tranh (Ưu đãi thuế thu nhập cá nhân, chính sách visa cởi mở, hạ tầng sống - làm việc - giải trí tiêu chuẩn quốc tế).

Bên cạnh đó là đổi mới chính sách thuế và tài khóa, khơi thông dòng vốn và linh hoạt chính sách tín dụng, đồng thời, thiết lập hành lang pháp lý cho Trí tuệ nhân tạo (AI).

Theo Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn, hệ thống chính sách hỗ trợ phát triển năng lực doanh nghiệp cần phải được phân loại theo giai đoạn: Hỗ trợ hộ kinh doanh, doanh nghiệp siêu nhỏ đảm bảo an sinh xã hội. Tiếp sức cho doanh nghiệp vừa và nhỏ để tạo việc làm. Tăng tốc cho doanh nghiệp lớn để trở thành những "con sếu đầu đàn". Nuôi dưỡng các doanh nghiệp tiên phong có năng lực cạnh tranh toàn cầu.

Mong muốn lớn nhất là tạo ra chuỗi phát triển liên tục: Doanh nghiệp siêu nhỏ lớn lên thành doanh nghiệp vừa; doanh nghiệp vừa vươn mình thành doanh nghiệp lớn; và doanh nghiệp lớn trở thành tập đoàn dẫn dắt. Bài học từ Trung Quốc cho thấy, 95% bằng phát minh sáng chế xuất phát từ lực lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ năng động, chứ không hoàn toàn phụ thuộc vào các viện nghiên cứu hay tập đoàn nhà nước khổng lồ. Đây là gợi mở rất lớn cho Việt Nam trong việc giải phóng sức sáng tạo từ khu vực tư nhân.

"Diễn đàn không dừng lại ở nhận diện khó khăn, mà đi sâu đề xuất danh mục chính sách ngắn gọn có thể triển khai ngay, những cơ chế thí điểm và cải cách thể chế cho trung và dài hạn. Tất cả kiến nghị sắc bén tại đây sẽ được tổng hợp thành Báo cáo gửi tới các cơ quan tham mưu chiến lược của Đảng và Nhà nước", GS.TS Lê Văn Lợi và PGS.TS Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh.