Thị trường

Hà Nội: Thách thức "biến" nhân lực chất lượng cao thành năng suất và giá trị cạnh tranh

-

Sở hữu nguồn nhân lực chất lượng cao cùng hệ thống nghiên cứu lớn, Hà Nội vẫn đối mặt bài toán chuyển lợi thế tri thức thành năng suất và sức cạnh tranh.

Lợi thế lớn nhưng năng lực cạnh tranh chưa tương xứng

Đó là nhận định của PGS.TS Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Chuyên gia cấp cao Diễn đàn Kinh tế Thủ đô (CEF) tại Diễn đàn Kinh tế Thủ đô lần thứ II vừa tổ chức với chủ đề "Động lực tăng trưởng từ nguồn nhân lực chất lượng cao".

Cụ thể, theo PGS.TS Trần Đình Thiên, Hà Nội đang sở hữu nhiều lợi thế đặc biệt về vị thế chính trị, mạng lưới đối ngoại, quy mô thị trường và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Tuy nhiên, khoảng cách giữa tiềm năng và kết quả phát triển thực tế vẫn là vấn đề cần được nhìn nhận thẳng thắn.

Hà Nội: Thách thức "biến" nhân lực chất lượng cao thành năng suất và giá trị cạnh tranh- Ảnh 1.

Ra mắt Hội đồng chuyên gia cấp cao ra mắt tại Diễn đàn.

Dẫn số liệu năm 2024, ông Thiên cho biết tỷ lệ lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo của Hà Nội đạt 53,9%. Trong khi đó, 96,2% doanh nghiệp có kết quả sản xuất kinh doanh sử dụng dưới 50 lao động.

Đáng chú ý, giai đoạn 2015-2024, số doanh nghiệp tăng 56,7% nhưng quy mô lao động chỉ tăng 19,9%.

Những con số này phản ánh thực tế đáng suy ngẫm: Số lượng doanh nghiệp gia tăng nhanh nhưng phần lớn vẫn hoạt động ở quy mô nhỏ. Khả năng tích tụ nguồn lực, đầu tư công nghệ và tham gia sâu vào chuỗi giá trị còn là thách thức.

Theo ông Thiên, Hà Nội cần chuyển những lợi thế sẵn có thành năng lực tổ chức sản xuất, đổi mới công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh.

Nhấn mạnh thông điệp "Lợi thế lớn cần trở thành năng lực vượt trội", ông cho rằng Thủ đô phải hướng tới vai trò dẫn dắt về công nghệ, sáng tạo và cạnh tranh quốc tế.

Muốn vậy, cần tháo gỡ đồng bộ các rào cản về vốn, đất đai, nhân lực, công nghệ và thủ tục. Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận đơn hàng, tiêu chuẩn, thương hiệu, sở hữu trí tuệ và hệ thống phân phối.

Trong bối cảnh AI, tự động hóa và chuyển đổi số đang tái định hình nền kinh tế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết.

Các ngành công nghiệp công nghệ cao, logistics, xây dựng, giao thông và dịch vụ hiện đại đều cần đội ngũ nhân lực không chỉ am hiểu chuyên môn mà còn có khả năng vận dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả hoạt động.

Nếu thiếu sự kết nối giữa đào tạo, nghiên cứu và nhu cầu thực tế, lợi thế tri thức của Hà Nội có nguy cơ tiếp tục phân tán, khó tạo thành sức mạnh cạnh tranh.

"Nghịch lý lớn nhất không phải thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, mà là chưa có cơ chế đủ hiệu quả để biến nguồn lực ấy thành năng suất và giá trị gia tăng", ông Thiên nói.

Hà Nội: Thách thức "biến" nhân lực chất lượng cao thành năng suất và giá trị cạnh tranh- Ảnh 2.

PGS.TS Trần Đình Thiên chia sẻ tại diễn đàn, 96,2% doanh nghiệp Hà Nội có kết quả sản xuất kinh doanh sử dụng dưới 50 lao động. Quy mô nhỏ khiến khả năng đầu tư công nghệ, nghiên cứu và thu hút nhân lực chất lượng cao gặp nhiều hạn chế.

Đào tạo chưa đủ, cần thêm chính sách trọng dụng nhân tài

Nhìn từ thực tiễn sản xuất kinh doanh, TS. Mạc Quốc Anh, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội cho rằng, bài toán nhân lực cần được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với hiệu quả tăng trưởng.

Doanh nghiệp không chỉ cần tuyển đủ lao động mà cần đội ngũ có khả năng làm chủ công nghệ, quản trị nguồn vốn, phát triển thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp Hà Nội có quy mô nhỏ, nguồn lực tài chính và khả năng đầu tư cho đào tạo, nghiên cứu còn hạn chế.

Đây là một trong những nguyên nhân khiến nhu cầu nhân lực chất lượng cao và khả năng sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chưa gặp nhau.

Doanh nghiệp cần lao động có kỹ năng thực hành, tư duy đổi mới và khả năng thích ứng nhanh với công nghệ. Nhưng hoạt động đào tạo ở không ít cơ sở vẫn chưa gắn chặt với yêu cầu sản xuất kinh doanh.

Khoảng cách giữa nhà trường và thị trường lao động vì thế không chỉ tạo ra tình trạng thiếu hụt kỹ năng, mà còn làm gia tăng chi phí tuyển dụng, đào tạo lại và hạn chế năng suất.

Để khắc phục, theo ông Mạc Quốc Anh, cần chuyển từ đào tạo theo khả năng cung ứng sang đào tạo dựa trên nhu cầu thực tế.

"Đặc biệt, với những ngành có tiềm năng ứng dụng công nghệ lớn như xây dựng, giao thông, logistics và công nghiệp chế biến, sự liên kết này có thể tạo ra những thay đổi trực tiếp về năng suất.

Chẳng hạn, ứng dụng AI trong quản lý hạ tầng đô thị, công nghệ số trong giám sát công trình, robot trong sản xuất công nghiệp hoặc dữ liệu lớn trong điều hành giao thông.

Khi doanh nghiệp được tham gia xác định bài toán nghiên cứu, kết quả khoa học có cơ hội tiếp cận thị trường ngay từ giai đoạn phát triển", ông Mạc Quốc Anh nói. 

Hà Nội: Thách thức "biến" nhân lực chất lượng cao thành năng suất và giá trị cạnh tranh- Ảnh 3.

TS. Mạc Quốc Anh, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội.

Tuy nhiên, đào tạo đúng nhu cầu mới chỉ giải quyết một phần vấn đề.

Theo TS. Bùi Phương Đình, Phó giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công, Hà Nội cần phân biệt rõ giữa phát triển nguồn nhân lực và chính sách trọng dụng nhân tài.

Phát triển nhân lực nhằm nâng cao chất lượng lực lượng lao động nói chung. Trong khi đó, trọng dụng nhân tài đòi hỏi cơ chế phát hiện, lựa chọn và sử dụng những cá nhân có năng lực đặc biệt để giải quyết các nhiệm vụ chiến lược.

Ông cho rằng Thủ đô cần những chuyên gia đầu ngành có khả năng thiết kế, kết nối và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ lớn, thay vì chỉ tuyển dụng nhân sự để hoàn thành những công việc đã được xác định sẵn.

"Quan điểm này đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản chính sách sử dụng nhân tài", ông Đình nhấn mạnh.

Hà Nội: Thách thức "biến" nhân lực chất lượng cao thành năng suất và giá trị cạnh tranh- Ảnh 4.

Theo TS. Bùi Phương Đình, Phó giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công, Hà Nội cần phân biệt rõ giữa phát triển nguồn nhân lực và chính sách trọng dụng nhân tài.

Ông Bùi Phương Đình phân tích: Theo Kế hoạch số 370/KH-UBND, thành phố đặt mục tiêu đưa đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 57%; nâng tổng đầu tư xã hội cho nghiên cứu và phát triển lên tối thiểu 2% GRDP, trong đó nguồn lực ngoài ngân sách chiếm trên 60%.

Hà Nội cũng đặt mục tiêu thu hút hơn 200 chuyên gia, nhà khoa học là trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tham gia hợp tác nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ.

"Đối với Hà Nội, một hướng đi cần được ưu tiên là hình thành cơ chế đặt hàng các nhiệm vụ khoa học, công nghệ xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp và yêu cầu quản lý đô thị.

Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thông qua chính sách, tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế thử nghiệm và hỗ trợ kết nối. Doanh nghiệp tham gia xác định nhu cầu, đầu tư và tiếp nhận công nghệ. Các trường đại học, viện nghiên cứu cung cấp tri thức, nhân lực và giải pháp", ông Đình khuyến nghị.