Giám định chất lượng

Kè Cửa Đại: Thách thức kỹ thuật dưới mặt biển

-

Tình trạng xói lở kéo dài tại bờ biển Cửa Đại đặt ra nhiều thách thức cho nhà thầu về địa chất, sóng gió và kỹ thuật thi công dưới nước, đặc biệt trong công tác định vị, kiểm soát thông số và xử lý biến động hiện trường.

Từ yêu cầu bảo vệ bờ biển đến bài toán thi công dưới nước

Trong nhiều năm, bờ biển Cửa Đại, Hội An liên tục chịu tác động của tình trạng xói lở. Năm 2015, phạm vi sạt lở kéo dài gần 8km, lấn sâu vào đất liền từ 20 - 80m, có nơi tới 200m. Đến tháng 9/2020, sóng lớn tiếp tục gây sạt lở khoảng 200m bờ biển Cẩm An, cuốn trôi nhiều đoạn kè đá và bao cát.

Trước diễn biến này, dự án Chống xói lở và bảo vệ bền vững bờ biển Hội An được triển khai với tổng vốn đầu tư hơn 982 tỷ đồng, tương đương khoảng 42 triệu Euro, sử dụng vốn vay và vốn đối ứng từ Cơ quan Phát triển Pháp (AFD). Trong khuôn khổ dự án, Tập đoàn Đạt Phương đảm nhiệm thi công hệ thống công trình gồm 7 tuyến đê ngầm giảm sóng cách bờ 250 - 300m, tổng chiều dài khoảng 2.090m và 6 mỏ hàn vuông góc với bờ, tổng chiều dài khoảng 1.490m. Hệ thống được kết nối nhằm giảm năng lượng sóng, giữ cát, hỗ trợ gây bồi và tái tạo bãi biển.

Kè Cửa Đại: Kè Cửa Đại: Thách thức kĩ thuật dưới mặt biển- Ảnh 1.

Lắp đặt cấu kiện phủ mái tại đoạn G1 thuộc dự án chống xói lở bờ biển Hội An.

Phần lớn các hạng mục được triển khai dưới nước, nơi việc quan sát trực tiếp và kiểm tra thông số kỹ thuật gặp nhiều hạn chế. Sóng, gió và biến động thời tiết không chỉ ảnh hưởng đến khả năng huy động phương tiện mà còn chi phối việc bố trí nhân lực, vật liệu và tổ chức thi công. Trong khi đó, các yêu cầu về vị trí, cao độ, hình dạng kết cấu và khối lượng vật liệu vẫn phải được kiểm soát theo thiết kế.

Theo đội ngũ dự án, khoảng thời gian thuận lợi cho thi công thường kéo dài từ tháng 3 - 9. Trong những tháng còn lại, mưa bão và sóng lớn có thể hạn chế đáng kể hoạt động trên biển. Bởi vậy, việc chuẩn bị nguồn lực, thiết bị và vật liệu cần được tính toán đồng bộ, đi cùng khả năng điều chỉnh kế hoạch theo diễn biến thực tế tại công trường.

Kiểm soát kỹ thuật trong điều kiện thi công đặc thù

Để triển khai các hạng mục dưới nước, Đạt Phương bố trí lực lượng thợ lặn có chứng chỉ chuyên môn, phối hợp với đội ngũ kỹ thuật và hệ thống phương tiện trên biển. Quá trình thi công đòi hỏi sự phối hợp liên tục giữa nhân lực trực tiếp dưới nước và lực lượng điều hành thiết bị trên mặt nước, đặc biệt tại những công đoạn yêu cầu kiểm soát chính xác vị trí, cao độ và hình dạng kết cấu.

Kè Cửa Đại: Kè Cửa Đại: Thách thức kĩ thuật dưới mặt biển- Ảnh 2.

Hoàn thiện mái đá phủ và lắp đặt cấu kiện bê tông bảo vệ mái, đỉnh kè tại công trình.

Trong đó, xếp đá bảo vệ mái đê là một trong những công đoạn có yêu cầu kỹ thuật cao. Các khối đá nặng từ hàng trăm kilôgam đến hơn một tấn phải được bố trí theo đúng cao độ và hình dạng thiết kế. Lớp dưới sử dụng đá hộc trọng lượng 400 - 600kg; các khối đá phía biển và phía bờ có trọng lượng từ 0,8-1,5 tấn/viên. Việc bố trí kết cấu đá dưới nước đòi hỏi sự phối hợp giữa thiết bị cẩu đặt và thợ lặn nhằm kiểm soát vị trí từng khối, hạn chế sai lệch hình học của mái đê.

Để hỗ trợ công tác định vị và kiểm tra, nhà thầu kết hợp thiết bị định vị vệ tinh RTK, máy đo sâu hồi âm, camera dưới nước với các phương pháp đo đạc trực tiếp bằng thước dây, sào đo, phao định vị và lực lượng thợ lặn. Việc kết hợp các phương pháp đo đạc và kiểm tra cho phép đối chiếu thông số tại hiện trường, kiểm soát khối lượng vật liệu và đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu thiết kế trong quá trình thi công.

Tuy nhiên, thách thức của công trình không chỉ nằm ở việc kiểm soát các thông số kỹ thuật theo thiết kế. Sự khác biệt giữa điều kiện khảo sát ban đầu và thực tế địa chất tại hiện trường còn đặt ra yêu cầu về khả năng nhận diện, xử lý và điều chỉnh biện pháp thi công. Một tình huống điển hình đã phát sinh tại đê B7, trên đoạn tuyến dài 200m từ Km0+00 - Km0+200.

Điều chỉnh phương án trước biến động địa chất

Tại đê B7, công tác nạo vét hố móng có khối lượng dự kiến khoảng 15.000m³. Theo phương án ban đầu, tàu hút được sử dụng để xử lý lớp cát theo từng phân đoạn, đưa đáy hố móng về cao độ thiết kế. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, một số vị trí xuất hiện lớp đất sét, khiến phương án nạo vét ban đầu không còn phù hợp với điều kiện thực tế.

Trước sự thay đổi của địa chất, đội ngũ thi công chuyển sang sử dụng tàu xén hút, đồng thời bố trí thợ lặn thả phao đánh dấu theo ô bàn cờ để xác định phạm vi cần xử lý. Với khối lượng nạo vét lớn trên đoạn tuyến dài, việc kiểm soát cao độ đáy móng đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa thiết bị chuyên dụng, nhân lực dưới nước và công tác đo đạc tại hiện trường.

Việc điều chỉnh biện pháp thi công đồng thời kéo theo yêu cầu thay đổi kế hoạch huy động thiết bị và bố trí nhân lực chuyên dụng. Tình huống tại đê B7 cho thấy, hồ sơ khảo sát và phương án thi công ban đầu là cơ sở quan trọng, nhưng chưa thể thay thế khả năng đánh giá điều kiện thực tế tại công trường. Khi xuất hiện những yếu tố khác biệt, nhà thầu cần kịp thời nhận diện và lựa chọn giải pháp phù hợp, bảo đảm đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của công trình.

Tại Kè Cửa Đại, thách thức không chỉ nằm ở điều kiện thi công dưới nước mà còn ở khả năng phối hợp nguồn lực, kiểm soát thông số và xử lý những biến động phát sinh tại hiện trường. Từ công tác định vị, xếp đá bảo vệ mái đê đến điều chỉnh phương án nạo vét tại đê B7, mỗi hạng mục đều đặt ra những yêu cầu riêng về kỹ thuật và tổ chức thi công.

Với Đạt Phương, quá trình triển khai các hạng mục tại Kè Cửa Đại là kinh nghiệm thực tiễn trong thi công công trình hạ tầng có điều kiện kỹ thuật đặc thù. Năng lực nhà thầu không chỉ thể hiện ở việc thực hiện đúng phương án thiết kế, mà còn ở khả năng kiểm soát quá trình thi công, phối hợp các nguồn lực và thích ứng trước những biến động của hiện trường.