Văn hóa

Khi di sản được “đánh thức” bằng công nghệ

-

Nhiều bảo tàng, di tích đang "thay da đổi thịt" nhờ công nghệ số. Từ triển lãm trực tuyến, tour đêm 3D Mapping đến các chiến dịch truyền thông triệu lượt xem, di sản đang được "đánh thức", trở thành một phần sống động của đời sống đương đại.

Ngồi nhà xem triển lãm ở bảo tàng

Một ngày hè tháng 5, Nguyễn Thảo, sinh viên năm 4 ở Hà Nội mở laptop để tham quan Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Truy cập chuyên mục triển lãm 3D của bảo tàng, cô bắt đầu hành trình từ sảnh trưng bày ảo với giao diện mô phỏng không gian thực.

Khi di sản được “đánh thức”  bằng công nghệ - Ảnh 1.

Nguyễn Thảo tham quan không gian triển lãm tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam trên website của bảo tàng.

Trên màn hình, từng phòng triển lãm hiện ra như một bảo tàng thu nhỏ. Thảo dùng chuột để di chuyển qua các hành lang, xoay góc nhìn 360 độ và dừng lại trước những tác phẩm mình quan tâm.

Khi chọn một triển lãm bất kỳ trong chuyên mục Triển lãm trực tuyến hoặc Tranh sơn mài Việt Nam, không gian 3D dẫn dắt Thảo tận thấy các tác phẩm được trưng bày khoa học, có thể phóng to với độ phân giải cao, cho phép quan sát rõ từng lớp màu, đường nét và chất liệu.

Các thông tin về tác giả, niên đại, kỹ thuật sáng tác được ghi cụ thể. Các tác phẩm có thể được xoay, phóng to để quan sát chất liệu, màu sắc, kỹ thuật tạo hình. Đi kèm là phần thuyết minh bằng hai ngôn ngữ tiếng Anh, tiếng Việt, tư liệu và thông tin nghiên cứu.

Theo TS Nguyễn Anh Minh, Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, chuyển đổi số đã được đơn vị triển khai từ năm 2017, với mục tiêu đưa mỹ thuật Việt Nam tiếp cận rộng hơn tới công chúng trong và ngoài nước.

Đơn vị đã vận dụng các công nghệ hiện đại, tiên tiến như cinemagraph, 3D Mapping… kết hợp với phương thức trưng bày truyền thống, góp phần làm đa dạng hóa trải nghiệm của du khách tại các triển lãm chuyên đề "Mùa xuân đất nước", "Đất nước tôi", "Xuân Hà Nội"…

Từ chỗ còn chưa nhiều người biết đến, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam trở thành điểm đến yêu thích của giới trẻ, công chúng yêu nghệ thuật. Lượng khách tham quan tăng hơn 300% so với 5 năm về trước. Lượng truy cập website, fanpage gia tăng đều đặn.

Trên internet, chỉ cần một click chuột, từ khóa "Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam" người dùng nhận được hơn 10 triệu kết quả.

Cá nhân hóa hành trình khám phá di sản

Trong khi đó, Minh Hiếu (20 tuổi, Hà Nội) lại bất ngờ khi lần đầu trải nghiệm các dịch vụ số tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Chỉ mất vài phút thao tác trên điện thoại để mua vé điện tử, quét mã QR tại cổng vào, Hiếu nhanh chóng bắt đầu hành trình khám phá di tích mà không mất nhiều thời gian xếp hàng mua vé giấy như trước.

Khi di sản được “đánh thức”  bằng công nghệ - Ảnh 2.

Chương trình “Tinh hoa đạo học” tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám được kết hợp giữa công nghệ trình chiếu 3D Mapping, âm thanh, ánh sáng và nghệ thuật kể chuyện.

Trong không gian di tích, Hiếu liên tục bắt gặp những ứng dụng công nghệ được tích hợp vào trải nghiệm tham quan. Điều khiến chàng trai gen Z ấn tượng nhất là tour đêm "Tinh hoa đạo học".

Trong không gian cổ kính, những công trình hàng trăm năm tuổi bất ngờ trở thành màn chiếu khổng lồ cho công nghệ 3D Mapping. Các hiệu ứng ánh sáng phủ lên mái ngói, sân gạch, tường cổ, tái hiện hành trình hình thành và phát triển của Văn Miếu cùng lịch sử khoa cử của dân tộc.

"Những câu chuyện lịch sử không còn là những nội dung khô khan trong sách tư liệu. Tất cả trở nên dễ nhớ, dễ hình dung nhờ sự kết hợp của hình ảnh chuyển động, âm thanh và hiệu ứng thị giác sống động", Hiếu chia sẻ.

Bà Lê Thị Thu Hiền, Cục trưởng Cục Di sản văn hóa đánh giá, hiệu quả của mô hình này là biến một di tích vốn quen thuộc ban ngày thành một không gian văn hóa sống động, lung linh vào ban đêm, tạo ra một sản phẩm công nghiệp văn hóa có nguồn thu tốt và tự chủ cao.

Ông Lê Xuân Kiêu, Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám cho biết, ngoài việc ứng dụng hệ thống vé điện tử, công nghệ trình chiếu, đơn vị đã số hóa 40 hạng mục quan trọng trong khu di tích.

"Chúng tôi không thay thế di sản bằng công nghệ, mà dùng công nghệ để làm nổi bật giá trị của di sản. Nhờ đó, việc tham quan không còn là hoạt động "xem cho biết", mà trở thành hành trình khám phá mang tính cá nhân hóa", ông Kiêu nói.

Khi di sản cũng "viral"

Hiện nay ngày càng nhiều bảo tàng, di tích đưa không gian văn hóa lên môi trường số. Từ một chiếc điện thoại, máy tính có kết nối internet, người xem có thể tham quan di sản ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào.

Khi di sản được “đánh thức”  bằng công nghệ - Ảnh 3.

Khán giả trẻ tham gia triển lãm “Thế giớituổi thơ qua các tác phẩm của cố Nghệ sĩ Nhân dân Ngô Mạnh Lân” tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Ảnh: BTC.

Ở Di tích Nhà tù Hỏa Lò, các triển lãm trực tuyến được thiết kế như một hành trình kể chuyện. Người xem có thể tự khám phá từng không gian giam giữ, theo dõi hình ảnh, tư liệu, hiện vật và nghe những câu chuyện lịch sử được lồng ghép xuyên suốt trải nghiệm tham quan.

Tương tự, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã ứng dụng công nghệ quét 3D, thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR) và xây dựng cơ sở dữ liệu số nhằm phục vụ công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá di sản...

Bên cạnh việc ứng dụng công nghệ vào trưng bày và tham quan, nhiều bảo tàng, di tích hiện nay còn thay đổi mạnh cách tiếp cận công chúng trên môi trường số.

Nếu trước đây fanpage của các bảo tàng, di tích chủ yếu đăng tải thông báo sự kiện hoặc thông tin chuyên môn với tần suất vài tuần, vài tháng/ bài, thì nay nhiều nơi đã chủ động sản xuất video ngắn, infographic, nội dung tương tác và kể chuyện lịch sử theo ngôn ngữ gần gũi hơn với giới trẻ.

Di tích Nhà tù Hỏa Lò được xem là một trong những trường hợp tiêu biểu. Trên fanpage có hơn 453.000 người theo dõi, đơn vị thường xuyên sử dụng storytelling, khai thác các câu chuyện lịch sử dưới góc nhìn đời thường, kết hợp hình ảnh, video và cách đặt tiêu đề giàu cảm xúc.

Tại Hoàng thành Thăng Long, các video giới thiệu tour đêm, hậu trường khai quật khảo cổ, không gian hầm D67 hay những hiện vật gắn với các giai đoạn lịch sử được sản xuất theo định dạng ngắn, phù hợp với thói quen tiếp nhận nội dung trên mạng xã hội. 

Từ những mô hình số hóa đang phát huy hiệu quả, yêu cầu xây dựng một hệ sinh thái dữ liệu di sản thống nhất đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Đây cũng là một trong những định hướng được Chính phủ đặt ra tại Quyết định số 611 ngày 4/4/2026 về Đề án "Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045". Đề án đặt mục tiêu xây dựng các nền tảng số dùng chung trong toàn ngành; chuẩn hóa, kết nối và chia sẻ dữ liệu văn hóa; 80% di sản số có mã định danh và ít nhất 80% di sản văn hóa phi vật thể tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số được số hóa, lưu trữ.

Từ kinh nghiệm thực tiễn, ông Lê Xuân Kiêu cho rằng, việc triển khai cần hành lang pháp lý phù hợp, từ quản lý dữ liệu đến hợp tác với doanh nghiệp. Nếu thiếu cơ chế thông thoáng, quá trình triển khai sẽ gặp nhiều rào cản.