Vật liệu xây dựng

Làm chủ công nghệ vật liệu để tự chủ công nghiệp, tự chủ công nghệ

-

Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ, chuỗi cung ứng và tài nguyên chiến lược toàn cầu ngày càng gay gắt, việc làm chủ công nghệ vật liệu sẽ là điều kiện tiên quyết để bảo đảm tự chủ công nghiệp, tự chủ công nghệ và an ninh quốc gia.

Cần xây dựng chiến lược trong giai đoạn mới 

Tại hội thảo "Công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới" do Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội tổ chức, Bộ Khoa học và Công nghệ đã có tham luận về vai trò của công nghiệp vật liệu trong tự chủ công nghệ chiến lược quốc gia.

 - Ảnh 1.

Công nghiệp vật liệu là nền tảng của công nghiệp hiện đại, là đầu vào chiến lược của nhiều ngành công nghiệp then chốt.

Bộ Khoa học và công nghệ đánh giá công nghiệp vật liệu là nền tảng của công nghiệp hiện đại, là đầu vào chiến lược của nhiều ngành công nghiệp then chốt. Các ngành công nghệ chiến lược như bán dẫn, AI, pin, năng lượng mới, điện tử và quốc phòng đều phụ thuộc trực tiếp vào vật liệu chiến lược và công nghệ vật liệu lõi.

Hiện nay, cạnh tranh công nghệ toàn cầu đang chuyển mạnh sang cạnh tranh về khả năng kiểm soát vật liệu chiến lược, công nghệ chế biến sâu và chuỗi cung ứng vật liệu. 

Trong bối cảnh đó, việc làm chủ công nghệ vật liệu không chỉ là yêu cầu phát triển kinh tế, mà còn là điều kiện bảo đảm tự chủ công nghiệp, tự chủ công nghệ và an ninh quốc gia. Quốc gia nào làm chủ vật liệu lõi sẽ làm chủ công nghệ lõi. Quốc gia nào phụ thuộc vào vật liệu sẽ phụ thuộc vào công nghệ.

Tuy nhiên, việc phát triển ngành công nghiệp vật liệu của Việt Nam còn nhiều điểm nghẽn như: chưa làm chủ được công nghệ chế biến sâu, dù có nguồn tài nguyên khoáng sản chiến lược; xuất khẩu khoáng sản giá trị thấp, trong khi nhập khẩu phần lớn vật liệu công nghệ cao; chưa có doanh nghiệp dẫn dắt tầm khu vực và thế giới; chưa có các trung tâm R&D (nghiên cứu và phát triển) quy mô quốc gia.

Bên cạnh đó, việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn Việt Nam đối với các chủng loại vật liệu mới, đặc biệt là các chủng loại vật liệu phục vụ phát triển công nghiệp chiến lược với tỷ lệ hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế cao, sẽ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn tới.

Theo nhận định của Bộ Khoa học và Công nghệ, để làm chủ được công nghệ vật liệu, giảm phụ thuộc nhập khẩu, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản chiến lược, việc cần làm là thay đổi tư duy quản lý, chuyển từ "khai thác tài nguyên" sang làm chủ công nghệ vật liệu, công nghệ chế biến sâu và chuỗi sản xuất vật liệu có giá trị gia tăng cao, từ nghiên cứu phân tán sang phát triển công nghệ theo chuỗi giá trị.

 - Ảnh 2.

Để làm chủ công nghệ vật liệu, cần thay đổi tư duy quản lý, chuyển từ "khai thác tài nguyên" sang làm chủ công nghệ vật liệu, công nghệ chế biến sâu và chuỗi sản xuất vật liệu có giá trị gia tăng cao.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Bộ Khoa học và Công nghệ đã đề xuất 4 giải pháp. Một là xác lập công nghiệp vật liệu là ngành công nghiệp nền tảng quốc gia, từ đó nghiên cứu xây dựng Chiến lược phát triển ngành vật liệu Việt Nam trong giai đoạn mới. Chiến lược cần xác định rõ các nhóm vật liệu ưu tiên, lộ trình làm chủ công nghệ, cơ chế huy động nguồn lực và phân công trách nhiệm giữa các bộ, ngành, địa phương, viện trường và doanh nghiệp.

Hai là xây dựng Chương trình quốc gia về phát triển công nghiệp vật liệu, gắn với công nghệ chiến lược và công nghiệp công nghệ cao.

Ba là phát triển hạ tầng nghiên cứu, thử nghiệm, kiểm định và chứng nhận cho công nghiệp vật liệu. Hạ tầng thiết kế theo hướng dùng chung, mở cho doanh nghiệp, hỗ trợ nâng mức sẵn sàng công nghệ, hoàn thiện sản phẩm và thúc đẩy thương mại hóa.

Bốn là ưu tiên hỗ trợ, hình thành các doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi giá trị về công nghiệp vật liệu.

Xây dựng Luật quản lý, phát triển vật liệu xây dựng

Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh cho biết, công tác quản lý, phát triển vật liệu xây dựng ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Đơn cử, hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực vật liệu xây dựng còn phân tán, thiếu một đạo luật chuyên ngành thống nhất.

 - Ảnh 3.

Việc nghiên cứu, đề xuất xây dựng Luật Quản lý, phát triển vật liệu xây dựng là cần thiết, có cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn

Từ thực tiễn nêu trên, Bộ Xây dựng cho rằng, việc nghiên cứu, đề xuất xây dựng Luật Quản lý, phát triển vật liệu xây dựng là cần thiết, có cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn. Vì vậy, Bộ kiến nghị Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội quan tâm, ủng hộ chủ trương đưa dự án Luật Quản lý, phát triển vật liệu xây dựng vào Chương trình lập pháp năm 2027.

Đồng tình với kiến nghị của Bộ Xây dựng, ông Tống Văn Nga, Chủ tịch Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam cũng kiến nghị phải sớm xây dựng Luật Quản lý và phát triển vật liệu xây dựng để tạo điều kiện khai thác hết tiềm năng của ngành vật liệu xây dựng.

Ông Nga cũng kiến nghị với Ủy ban Khoa học công nghệ và môi trường của Quốc hội xem xét chấm dứt việc dùng chất thải sinh hoạt để đốt rác phát điện vì hành động này có thể phát ra khí thải rất độc và phải xử lý tro xỉ. Thay vào đó, ông Nga kiến nghị áp dụng giải pháp đưa rác thải sinh hoạt đốt trong lò nung xi măng để mang lại hiệu quả cao hơn.

Thiết kế và triển khai các công cụ chính sách đủ mạnh

Trong khi đó, ông Đinh Quốc Thái, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Thép Việt Nam khẳng định, việc phát triển công nghiệp vật liệu và cơ khí chế tạo là một trong những điều kiện cốt lõi để nâng cao năng lực nội sinh và đảm bảo tính tự chủ của nền kinh tế. Trong đó, ngành thép giữ vai trò đặc biệt quan trọng với tư cách là ngành cung cấp cơ bản cho công nghiệp cơ khí chế tạo và các lĩnh vực khác.

Tuy nhiên, hiện nay ngành thép vẫn đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn như phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, trình độ công nghệ giữa các doanh nghiệp chưa đồng đều, trong khi áp lực cạnh tranh quốc tế ngày càng gia tăng.

Theo ông Thái, nhiệm vụ quan trọng trong thời gian tới là thiết kế và triển khai các công cụ chính sách đủ mạnh để thúc đẩy đổi mới công nghệ, phát triển nguyên liệu và nâng cao năng lực liên kết của ngành. Tập trung vào các giải pháp cơ bản phát triển ngành thép theo hướng hiện đại, xanh, bền vững, phù hợp với mục tiêu chuyển đổi năng lượng và cam kết của Chính phủ tại Hội nghị COP26.

Cân đối thị trường nguồn, tăng tỷ lệ nội địa, thiết lập các nguyên lý chiến lược nhằm đáp ứng tối đa các nhu cầu của công nghiệp vật liệu, cơ khí chế tạo và các ngành kinh tế khác. Thúc đẩy đổi mới công nghệ, đặc biệt là công nghệ phát thải thấp hoặc không phát thải khí nhà kính. Tăng cường công tác phòng vệ thương mại và năng lực cạnh tranh quốc tế. Phát triển ngành thép gắn với chất lượng an ninh kinh tế và tự chủ công nghiệp.

 - Ảnh 4.

Tổng công ty VICEM kiến nghị sớm ban hành Chiến lược quốc gia về phát triển công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí chế tạo đến năm 2045.

Đại diện Tổng công ty Xi măng Việt Nam Việt Nam (VICEM) kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sớm ban hành Chiến lược quốc gia về phát triển công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí chế tạo đến năm 2045.

Theo VICEM, cần ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp nền tảng phục vụ các dự án chiến lược quốc gia như đường sắt tốc độ cao, điện hạt nhân, năng lượng tái tạo, hạ tầng số và công nghiệp bán dẫn; đồng thời tiếp tục triển khai hiệu quả Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam theo Quyết định số 319/QĐ-TTg, từng bước nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo thiết bị và tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp trọng điểm.

Bên cạnh đó, VICEM cũng kiến nghị hoàn thiện cơ chế ưu đãi đầu tư đối với các dự án sản xuất vật liệu chiến lược, cơ khí chế tạo công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ; xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đồng bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế; có chính sách tín dụng dài hạn và quỹ hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp công nghiệp nền tảng; tăng cường đặt hàng nghiên cứu khoa học từ doanh nghiệp; thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu.