Thị trường

Nâng chất lượng cải cách để mở rộng không gian phát triển cho doanh nghiệp

-

Hàng loạt chính sách mới đang mở đường cho doanh nghiệp phát triển, nhưng khoảng cách từ chủ trương đến thực thi vẫn là thách thức. Muốn tạo đột phá tăng trưởng, cải cách phải được đo bằng khơi thông nguồn lực, giảm chi phí và đầu tư thực chất.

Cải cách thể chế đang diễn ra với tốc độ mạnh mẽ. Nhiều nghị quyết, luật và cơ chế mới liên tục được ban hành, tạo nền tảng thúc đẩy kinh tế tư nhân, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đây là vấn đề xuyên suốt Diễn đàn "Doanh nhân tiên phong – Chính phủ kiến tạo trong kỷ nguyên mới", do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa tổ chức nhân dịp Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10.

Nâng chất lượng cải cách để mở rộng không gian phát triển cho doanh nghiệp- Ảnh 1.

PGS.TS Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch VCCI phát biểu khai mạc diễn đàn.

Phát biểu khai mạc, PGS.TS Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch VCCI nhấn mạnh, "Chính phủ kiến tạo" và "Doanh nhân tiên phong" là hai điều kiện phải đồng thời được đáp ứng để tạo ra giai đoạn phát triển mới.

Theo ông, Nhà nước mở ra không gian phát triển bằng thể chế tốt hơn, nhưng doanh nghiệp mới là chủ thể chuyển hóa những điều kiện đó thành dự án đầu tư, sản phẩm, việc làm và giá trị gia tăng.

Ngược lại, doanh nghiệp dù có nguồn vốn, ý tưởng và khát vọng phát triển nhưng nếu môi trường kinh doanh thiếu ổn định, thủ tục kéo dài, nguồn lực ách tắc thì cơ hội đầu tư khó trở thành hiện thực.

Chủ tịch VCCI nhìn nhận, thời gian qua, việc sắp xếp bộ máy, phân cấp, phân quyền và đơn giản hóa thủ tục hành chính đã góp phần mở rộng không gian phát triển. Tuy nhiên, khoảng cách giữa chủ trương và thực thi vẫn là thách thức cần tập trung giải quyết.

"Chính sách tốt chưa chắc đã tự động tạo ra được kết quả tốt", ông Hồ Sỹ Hùng nhấn mạnh.

Thể chế kiến tạo phải được đo bằng kết quả thực thi

Từ góc độ xây dựng pháp luật, ông Phan Đức Hiếu, đại biểu Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội cho rằng, cải cách thể chế đang có những chuyển biến mạnh mẽ cả về tư duy và tốc độ.

Theo ông, chỉ riêng kỳ họp tháng 5 vừa qua, Quốc hội đã thông qua hơn 80 luật và nghị quyết. Đáng chú ý, Nghị quyết 198/2025/QH15 về cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân được hoàn thiện và thông qua trong 12 ngày đêm.

Tuy nhiên, số lượng văn bản không phải thước đo cuối cùng của cải cách.

"Chúng ta không đo lường chất lượng thể chế bằng số lượng văn bản, mà phải đo lường bằng kết quả triển khai trên thực tiễn", ông Hiếu nhấn mạnh.

Một thay đổi đáng chú ý là tư duy xử lý những vướng mắc pháp lý tồn đọng. Thay vì buộc dự án phải thực hiện lại toàn bộ thủ tục khi phát hiện sai sót, cơ chế mới hướng tới xử lý đúng vi phạm, xác định đúng trách nhiệm, đồng thời bảo đảm những nguồn lực hợp pháp không tiếp tục bị đình trệ.

Cách tiếp cận này được kỳ vọng tháo gỡ khó khăn cho các dự án kéo dài, đưa nguồn lực đất đai, vốn đầu tư và tài sản trở lại hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Cùng với đó, Nghị quyết 206/2025/QH15 tạo cơ chế xử lý nhanh những quy định, điều kiện kinh doanh bất hợp lý, góp phần giảm độ trễ trong quá trình hoàn thiện pháp luật.

Đối với hoạt động đầu tư, những thay đổi liên quan đến chấp thuận chủ trương và quy hoạch cũng được kỳ vọng hạn chế tình trạng thủ tục chồng chéo, doanh nghiệp phải xin phép nhiều lần đối với cùng một dự án.

Theo ông Hiếu, cải cách chỉ thực sự có ý nghĩa khi doanh nghiệp cảm nhận được kết quả cụ thể. Đó là thời gian xử lý hồ sơ được rút ngắn, chi phí tuân thủ giảm xuống và cơ hội đầu tư được mở rộng.

Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp cũng phải chủ động tham gia góp ý chính sách ngay từ quá trình xây dựng pháp luật, thay vì chỉ phản ánh khó khăn khi quy định đã có hiệu lực.

Nếu cải cách thể chế là điều kiện mở đường, đổi mới mô hình tăng trưởng chính là yêu cầu quyết định khả năng tận dụng những cơ hội phát triển.

Nâng chất lượng cải cách để mở rộng không gian phát triển cho doanh nghiệp- Ảnh 2.

TS Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương nhận định, Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển đòi hỏi những động lực tăng trưởng mới, có chất lượng và sức lan tỏa cao hơn.

Các nghị quyết chiến lược về phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã xác lập những định hướng quan trọng. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao, nền kinh tế không thể tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào mở rộng vốn đầu tư, lao động giá rẻ và khai thác lợi thế sẵn có.

Trọng tâm phải chuyển sang nâng cao năng suất, giá trị gia tăng, hiệu quả phân bổ nguồn lực và năng lực làm chủ công nghệ.

TS Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương nhận định: Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển đòi hỏi những động lực tăng trưởng mới, có chất lượng và sức lan tỏa cao hơn. Những lĩnh vực có khả năng lan tỏa như nghiên cứu và phát triển (R&D), logistics, năng lượng, tài chính và công nghiệp công nghệ số cần được ưu tiên thúc đẩy. Các ngành sản xuất truyền thống cũng phải chuyển từ cạnh tranh bằng chi phí sang chất lượng và hàm lượng công nghệ.

Đặc biệt, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành nền tảng hình thành lực lượng sản xuất mới, mô hình kinh doanh mới và không gian tăng trưởng mới.

Một yêu cầu quan trọng khác là xây dựng hệ sinh thái doanh nghiệp quốc gia lớn mạnh, trong đó các thành phần kinh tế phát huy thế mạnh và bổ trợ lẫn nhau.

Kinh tế nhà nước giữ vai trò định hướng, dẫn dắt trong những lĩnh vực quan trọng; kinh tế tư nhân phát huy vai trò động lực tăng trưởng, tiên phong đổi mới sáng tạo và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Để hình thành hệ sinh thái này, cần thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp, hợp tác xã, viện nghiên cứu và trường đại học.

Theo TS Nguyễn Đức Hiển, quản trị quốc gia cũng phải chuyển từ tư duy quản lý hành chính nặng về tiền kiểm sang quản trị phát triển dựa trên pháp quyền, dữ liệu, phân cấp và trách nhiệm giải trình.

Đây là điều kiện để các chủ trương lớn được chuyển hóa thành kết quả cụ thể, giải phóng những nguồn lực đang bị cản trở bởi cơ chế quản lý và thủ tục hành chính.

Doanh nghiệp cần không gian phát triển, không chỉ chính sách thuận lợi

Nếu thể chế là điều kiện mở đường, năng lực đổi mới và đầu tư của doanh nghiệp mới quyết định khả năng chuyển hóa cơ hội thành tăng trưởng.

Từ thực tiễn sản xuất, kinh doanh, nhiều doanh nghiệp cho rằng khoảng cách giữa chủ trương cải cách và quá trình triển khai vẫn là một trong những rào cản đáng kể.

Nâng chất lượng cải cách để mở rộng không gian phát triển cho doanh nghiệp- Ảnh 3.

Ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội cho rằng, cải cách thể chế đang có những chuyển biến mạnh mẽ cả về tư duy và tốc độ.

Ông Kiều Văn Mát, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Sông Đà Cao Cường (SCL) cho rằng, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn đang mở ra cơ hội nâng cao hiệu quả sản xuất, tiết kiệm tài nguyên và tối ưu chi phí.

Tuy nhiên, để những mô hình này được nhân rộng, doanh nghiệp cần môi trường thể chế thông thoáng, đặc biệt là hệ thống tiêu chuẩn, định mức đối với vật liệu tái chế và cơ chế tiếp cận tín dụng xanh.

Đại diện Sông Đà Cao Cường kiến nghị bảo đảm chính sách được thực thi thống nhất từ Trung ương đến địa phương, tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư phát triển vật liệu xây dựng xanh và những mô hình sản xuất theo hướng bền vững.

Ở lĩnh vực công nghệ, bà Trần Thị Thu Trang, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Thế hệ mới Hanel PT đặt vấn đề về thị trường cho các sản phẩm công nghệ do doanh nghiệp Việt Nam nghiên cứu, phát triển.

Theo bà, để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, cần hoàn thiện cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đồng thời tạo điều kiện thương mại hóa những công nghệ do doanh nghiệp trong nước làm chủ.

Nâng chất lượng cải cách để mở rộng không gian phát triển cho doanh nghiệp- Ảnh 4.

Khi cải cách thực sự đi vào cuộc sống, doanh nghiệp mới có đủ niềm tin và động lực để đầu tư, đổi mới, đóng góp vào tăng trưởng.

Thị trường nội địa cần trở thành bệ phóng để sản phẩm công nghệ Việt tích lũy năng lực cạnh tranh trước khi vươn ra quốc tế.

Đằng sau kiến nghị này là yêu cầu quan trọng đối với chính sách phát triển khoa học công nghệ: Đổi mới sáng tạo không thể chỉ dừng ở nghiên cứu, mà phải được chuyển hóa thành sản phẩm, thị trường và giá trị kinh tế.

Doanh nghiệp có thể đầu tư nghiên cứu và làm chủ công nghệ, nhưng nếu thiếu cơ chế thử nghiệm, thiếu thị trường và cơ hội thương mại hóa, kết quả nghiên cứu khó tạo ra đóng góp tương xứng cho tăng trưởng.

Trong khi đó, đại diện Công ty Cổ phần Dịch vụ Dầu khí (PTSC) Quảng Ngãi nhấn mạnh yêu cầu tháo gỡ điểm nghẽn đầu tư để doanh nghiệp có điều kiện phát triển dài hạn. Muốn tăng trưởng bền vững, doanh nghiệp phải chủ động đầu tư, nâng cấp năng lực và đổi mới mô hình hoạt động. 

Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật, xử lý dứt điểm những điểm nghẽn và rút ngắn quy trình triển khai dự án, tạo điều kiện để doanh nghiệp yên tâm hoạch định chiến lược dài hạn.

Ở góc nhìn khác, đại diện Công ty Cổ phần Phúc Sinh cho rằng, bên cạnh yêu cầu cải cách thể chế, bản thân doanh nghiệp phải chuyển mạnh từ tư duy thích nghi sang chủ động trước những thay đổi của thị trường.

Nếu trước đây, thích nghi là yếu tố quan trọng quyết định khả năng tồn tại, thì trong bối cảnh hiện nay, chủ động đổi mới mới là chìa khóa tạo ra lợi thế cạnh tranh.

Doanh nghiệp không thể chỉ chờ chính sách thay đổi mà phải tự nâng cao năng lực quản trị, nắm bắt cơ hội, đổi mới mô hình kinh doanh và thích ứng với những yêu cầu mới.

Điều đó đặt ra yêu cầu mới đối với vai trò kiến tạo của Nhà nước. Không chỉ tháo gỡ những rào cản hiện hữu, thể chế cần tạo điều kiện hình thành các động lực tăng trưởng mới, thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao năng suất, làm chủ công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp phải chủ động nâng cao năng lực quản trị, đầu tư cho đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững, thay vì chỉ trông chờ vào những ưu đãi hoặc sự hỗ trợ từ chính sách.

Một Chính phủ kiến tạo không chỉ được nhận diện qua số lượng chính sách ban hành, mà phải được kiểm chứng bằng những dự án được triển khai, nguồn lực được khơi thông và cơ hội kinh doanh được mở rộng.