Nâng mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công lên hơn 3 triệu đồng
Chính phủ quy định mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công 3,012 triệu đồng/tháng, đồng thời bổ sung, điều chỉnh nhiều chế độ về điều dưỡng, giáo dục, thăm viếng mộ, di chuyển hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 321/2026/NĐ-CP quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng. Nghị định quy định mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng là 3.012.000 đồng/tháng.

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng thăm hỏi Mẹ Việt Nam Anh hùng tham dự Hội nghị tri ân người có công với cách mạng toàn quốc năm 2026. Ảnh: VGP/Nhật Bắc.
Theo Nghị định, mức chuẩn này là căn cứ để tính mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công. Khi mức chuẩn được điều chỉnh, các mức trợ cấp, phụ cấp và chế độ ưu đãi tính theo mức chuẩn cũng được điều chỉnh tương ứng và làm tròn đến hàng nghìn đồng.
Nghị định quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp ưu đãi hằng tháng đối với người có công và thân nhân được thực hiện theo Phụ lục I; mức hưởng đối với thương binh, người hưởng chính sách như thương binh được quy định tại Phụ lục II; thương binh loại B được quy định tại Phụ lục III.
Trong đó, Phụ lục I quy định nhiều mức trợ cấp cụ thể. Chẳng hạn, thân nhân của người hoạt động cách mạng trước ngày 1/1/1945 được hưởng trợ cấp hằng tháng 3,012 triệu đồng; vợ hoặc chồng, con chưa đủ 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng của người hoạt động cách mạng từ ngày 1/1/1945 đến trước Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 được hưởng 1,69 triệu đồng/tháng trong trường hợp thuộc diện quy định.
Đối với thân nhân liệt sĩ, mức trợ cấp hằng tháng được quy định theo từng trường hợp. Con liệt sĩ chưa đủ 18 tuổi được hưởng 6,024 triệu đồng; thân nhân của một liệt sĩ, trừ trường hợp con liệt sĩ chưa đủ 18 tuổi, được hưởng 3,012 triệu đồng; thân nhân của hai liệt sĩ hưởng 6,024 triệu đồng và thân nhân của ba liệt sĩ trở lên hưởng 9,036 triệu đồng/tháng.
Mức trợ cấp đối với Bà mẹ Việt Nam Anh hùng là 9,036 triệu đồng/tháng, kèm phụ cấp 2,524 triệu đồng/tháng. Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến được hưởng trợ cấp 2,524 triệu đồng/tháng.
Đối với thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B, mức trợ cấp được xác định theo tỷ lệ tổn thương cơ thể. Trường hợp thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 81% trở lên được hưởng phụ cấp 3,012 triệu đồng/tháng; nếu có vết thương đặc biệt nặng, mức phụ cấp là 6,024 triệu đồng/tháng.
Nghị định cũng quy định mức trợ cấp đối với bệnh binh theo tỷ lệ tổn thương cơ thể. Bệnh binh có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 41% đến 50% được hưởng 3,144 triệu đồng/tháng; từ 51% đến 60% là 3,917 triệu đồng; từ 61% đến 70% là 4,992 triệu đồng; từ 71% đến 80% là 5,755 triệu đồng; từ 81% đến 90% là 6,888 triệu đồng và từ 91% đến 100% là 7,672 triệu đồng/tháng.
Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học cũng được hưởng trợ cấp theo tỷ lệ tổn thương cơ thể. Mức trợ cấp dao động từ 2,29 triệu đồng/tháng đối với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 21% đến 40% đến 6,867 triệu đồng/tháng đối với tỷ lệ từ 81% trở lên. Trường hợp thuộc diện hưởng phụ cấp do có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 81% trở lên được hưởng thêm 1,511 triệu đồng/tháng; nếu có bệnh tật đặc biệt nặng, mức phụ cấp là 3,012 triệu đồng/tháng.
Bên cạnh trợ cấp, phụ cấp hằng tháng, Nghị định quy định nhiều chế độ ưu đãi khác như điều dưỡng phục hồi sức khỏe, hỗ trợ phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện và thiết bị phục hồi chức năng cần thiết; hỗ trợ ưu đãi giáo dục; thăm viếng mộ liệt sĩ; di chuyển hài cốt liệt sĩ và hỗ trợ công tác mộ liệt sĩ, công trình ghi công liệt sĩ.
Đáng chú ý, mức chi điều dưỡng phục hồi sức khỏe tại nhà bằng 0,9 lần mức chuẩn/người/lần; điều dưỡng phục hồi sức khỏe tập trung bằng 1,8 lần mức chuẩn/người/lần. Hỗ trợ thăm viếng mộ liệt sĩ được tính theo khoảng cách từ nơi cư trú đến nơi có mộ liệt sĩ, với mức 5.000 đồng/km/người.
Đối với công tác xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin, Nghị định quy định nhiều khoản hỗ trợ cụ thể. Chi phí khai quật, cất bốc, hoàn thiện mộ sau khi lấy mẫu hài cốt liệt sĩ là 1,15 triệu đồng/mộ; lấy mẫu hài cốt liệt sĩ 50.000 đồng/mộ; hỗ trợ người được lấy mẫu thân nhân liệt sĩ 500.000 đồng/người. Trường hợp xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin bằng phương pháp thực chứng, mức chi hỗ trợ tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin làm căn cứ ban hành quyết định xác định danh tính là 3 triệu đồng/mộ liệt sĩ được xác minh thành công.
Nghị định cũng quy định trợ cấp thờ cúng liệt sĩ 1,6 triệu đồng/liệt sĩ/năm và chế độ tiền ăn thêm ngày lễ, Tết đối với một số đối tượng người có công ở mức 600.000 đồng/người/ngày.
Theo quy định, Nghị định 321/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/10/2026. Tuy nhiên, chế độ quy định tại các Điều 4, 5, 8 và 12 được thực hiện kể từ ngày 1/7/2026; các chế độ quy định tại Điều 6, 7, 9, 10, 11 và 13 được thực hiện kể từ ngày 1/1/2027.
Nghị định 321/2026/NĐ-CP đồng thời thay thế các quy định trước đây về mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng theo lộ trình được quy định tại Điều 15 của Nghị định.