Nghệ An: Mở hướng phát triển cát nhân tạo, giảm áp lực nguồn cung vật liệu xây dựng
Nhu cầu cát xây dựng tại Nghệ An ngày càng tăng, trong khi nguồn cát tự nhiên có giới hạn và việc khai thác ngày càng được quản lý chặt chẽ. Cát nhân tạo được kỳ vọng bổ sung nguồn cung, giảm áp lực nguồn cung vật liệu xây dựng trong những năm tới.
Từ thực tế sử dụng đến kỳ vọng mở rộng thị trường
Tại các công trình xây dựng, chất lượng cát ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình thi công và chất lượng sản phẩm sau hoàn thiện. Vì vậy, bên cạnh giá thành, khả năng đáp ứng yêu cầu kỹ thuật là yếu tố quan trọng quyết định việc cát nhân tạo được đưa ra thị trường và đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Cát nhân tạo được kỳ vọng bổ sung nguồn cung, bền vững cho vật liệu xây dựng tại Nghệ An.
Anh Nguyễn Văn Khang, trú khối Ngũ Phúc, phường Vinh Lộc (Nghệ An) cho biết, gia đình đang xây nhà 2 tầng và lựa chọn cát nghiền nhân tạo để đổ móng vì cát sạch, hạt đồng đều, hạn chế nguy cơ lẫn bùn bẩn, nhiễm mặn.
Theo anh Khang, chất lượng và nguồn gốc vật liệu là yếu tố quan trọng khi xây nhà, giúp gia đình yên tâm hơn trong quá trình sử dụng. Từ phía doanh nghiệp phân phối, khả năng tiêu thụ sản phẩm là cơ sở quan trọng để đánh giá tiềm năng của thị trường.

Khu vực tập kết thành phẩm cát nghiền hoàn thành thuộc dây chuyền sản xuất và kinh doanh cát nghiền của Công ty TNHH Trường An, xã Đô Lương (Nghệ An).
Ông Nguyễn Xuân Thời, Giám đốc Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Thời Phát cho biết, doanh nghiệp bắt đầu tiếp cận, mua bán và vận chuyển cát nghiền nhân tạo của Công ty TNHH Trường An đến khách hàng từ tháng 5/2026. Sau gần 5 tháng cung ứng, sản phẩm đã được một số trạm trộn bê tông và cơ sở sản xuất gạch táp lô đưa vào sử dụng.
Phản hồi ban đầu từ các đơn vị sử dụng cho thấy cát nghiền cơ bản đáp ứng yêu cầu trong quá trình sản xuất bê tông. Chất lượng bê tông sau khi sử dụng loại cát này được các trạm trộn đánh giá tốt. Sản phẩm có nguồn gốc, hồ sơ kiểm định và hóa đơn VAT, giúp doanh nghiệp yên tâm hơn khi phân phối đến khách hàng.
Theo ông Thời, thực tế này cho thấy cát nhân tạo đã bắt đầu tìm được chỗ đứng ở một số phân khúc thị trường. Tuy nhiên, để mở rộng phạm vi sử dụng, sản phẩm cần tiếp tục được kiểm soát chất lượng, đánh giá khả năng đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của từng loại công trình và chứng minh lợi thế về chi phí.
Đặc biệt, đối với các cơ sở sản xuất cấu kiện bê tông, cọc bê tông ly tâm phục vụ thi công móng, nguyên liệu đầu vào phải đáp ứng những yêu cầu kỹ thuật cụ thể. Do đó, cát nhân tạo không thể chỉ cạnh tranh bằng nguồn cung sẵn có mà phải bảo đảm tính ổn định giữa các lô sản phẩm, phù hợp với công nghệ sản xuất và yêu cầu của khách hàng.

Hệ thống nghiền đá đầu vào.
Ông Trần Quốc Danh, Giám đốc Công ty TNHH Trường An cho biết, doanh nghiệp quyết định đầu tư gần 21,58 tỷ đồng xây dựng dây chuyền sản xuất cát nhân tạo xuất phát từ nhu cầu thực tế của thị trường vật liệu xây dựng Nghệ An.
Cùng với đó, trong bối cảnh nhu cầu cát xây dựng tăng, nguồn cát tự nhiên có giới hạn và hoạt động khai thác được quản lý chặt chẽ hơn, việc tận dụng nguồn đá phù hợp để sản xuất cát nghiền là hướng đi giúp doanh nghiệp đa dạng hóa sản phẩm, đồng thời bổ sung nguồn vật liệu cho thị trường.
Doanh nghiệp hướng đến cung cấp nguồn cát ổn định cho nhiều nhóm khách hàng, đặc biệt là các đơn vị sản xuất cọc bê tông ly tâm và cấu kiện bê tông. Đây là những lĩnh vực đòi hỏi nguyên liệu có chất lượng đồng đều, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và có khả năng cung ứng liên tục.

Hệ thống sàn rung thành phẩm của dây chuyền cát nghiền giúp tách biệt các kích thước hạt nghiền khác nhau, chia vật liệu thành các dải kích thước mong muốn.
Theo ông Danh, để nâng cao chất lượng thành phẩm, Công ty đã đầu tư dây chuyền sản xuất đồng bộ, trong đó có hệ thống rửa cát sử dụng công nghệ Ultradry Modular Dewatering Screen. Hệ thống được thiết kế theo dạng module, kết hợp tuyển rửa và sàng rung nhằm loại bỏ bùn, sét, tạp chất mịn, đồng thời tách nước khỏi cát sau xử lý.
Trong quá trình vận hành, hỗn hợp nguyên liệu được đưa vào hệ thống tuyển rửa. Sau khi các tạp chất được tách ra, mặt sàng nghiêng kết hợp chuyển động rung giúp nước thoát qua lưới, giữ lại phần cát. Cát sau xử lý được chuyển lên băng tải BT15 để đưa ra bãi chứa.
Theo định hướng của doanh nghiệp, dây chuyền này góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm độ ẩm cát thành phẩm và tạo thuận lợi cho khâu vận chuyển, lưu kho. Tuy nhiên, hiệu quả công nghệ cần được đánh giá cùng với các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm, mức tiêu hao năng lượng, chi phí vận hành và giá bán thực tế.

Dây chuyền sản xuất và kinh doanh cát nghiền của Công ty TNHH Trường An, xã Đô Lương (Nghệ An) đã được đánh giá và xác nhận phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn ISO 9001:2005.
Ông Danh cho rằng, để cát nhân tạo cạnh tranh trên thị trường, doanh nghiệp phải duy trì chất lượng ổn định, giá thành hợp lý và đáp ứng nhu cầu của từng nhóm khách hàng. Đầu tư máy móc mới chỉ là điều kiện ban đầu; khả năng tiêu thụ lâu dài còn phụ thuộc vào việc sản phẩm có phù hợp với yêu cầu sử dụng và đem lại hiệu quả kinh tế cho khách hàng hay không.
Và đến ngày 24/8/2026, dây chuyền sản xuất và kinh doanh cát nghiền của Công ty đã được đánh giá và xác nhận phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn ISO 9001:2005. Sản phẩm Cát nghiền cho bê tông và vữa cũng đã được cấp Giấy chứng nhận hợp quy QCVN 16:2023/BXD cho Công ty TNHH Trường An.

Giấy chứng nhận hợp quy chứng nhận sản phẩm cát nghiền cho bê tông và vữa của Công ty TNHH Trường An, xã Đô Lương (Nghệ An) phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 16:2023/BXD.
Đây cũng là thách thức chung đối với các cơ sở sản xuất cát nhân tạo. Nếu giá thành đến chân công trình cao, nguồn cung thiếu ổn định hoặc chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu, sản phẩm sẽ khó mở rộng thị phần, dù công suất thiết kế lớn. Ngược lại, khi chủ động được nguyên liệu, công nghệ và mạng lưới phân phối, cát nhân tạo có thể trở thành một nguồn cung bổ sung đáng kể cho thị trường.
Cần định hướng phát triển gắn với nhu cầu và chất lượng
Theo rà soát của Sở Xây dựng, Nghệ An dự báo nhu cầu cát xây dựng năm 2026 thiếu khoảng 1,773 triệu m³; trong giai đoạn 2026-2030, nguồn cung hiện tại chỉ đáp ứng khoảng 39% nhu cầu. Những con số này cho thấy áp lực đáng kể đối với việc bảo đảm nguồn vật liệu phục vụ các công trình. Tuy nhiên, để đánh giá đầy đủ khả năng phát triển cát nhân tạo, cần làm rõ phương pháp tính, phạm vi thống kê và cơ cấu nguồn cung được sử dụng trong dự báo.
Trong bối cảnh đó, cát nhân tạo có thể góp phần đa dạng hóa nguồn vật liệu, giảm sự phụ thuộc vào cát tự nhiên và tận dụng hiệu quả hơn nguồn đá phù hợp tại địa phương. Dù vậy, không thể mặc định mọi sản phẩm cát nghiền đều thay thế được cát tự nhiên trong tất cả các mục đích sử dụng. Việc lựa chọn phải căn cứ vào thành phần hạt, chỉ tiêu chất lượng, yêu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn áp dụng đối với từng loại vữa, bê tông hoặc cấu kiện xây dựng.

Từ năm 2023 tỉnh Nghệ An đã định hướng khuyến khích đầu tư dây chuyền sản xuất cát nghiền từ đá, sỏi cuội, gắn với yêu cầu chất lượng, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng Nghệ An theo Quyết định số 3089/QĐ-UBND ngày 27/9/2023 của UBND tỉnh Nghệ An đã định hướng khuyến khích đầu tư dây chuyền sản xuất cát nghiền từ đá, sỏi cuội, gắn với yêu cầu chất lượng, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường. Đây là cơ sở để nghiên cứu phát triển nguồn vật liệu thay thế, nhưng việc triển khai cần đi cùng đánh giá cụ thể về nguồn nguyên liệu, công suất, thị trường tiêu thụ và hiệu quả đầu tư.
Ông Nguyễn Tuấn Tài, Trưởng phòng Khoa học công nghệ và Vật liệu xây dựng, Sở Xây dựng Nghệ An, cho biết thời gian qua, sở định hướng phát triển cát nhân tạo như một nguồn vật liệu bổ sung, góp phần đa dạng hóa nguồn cung và giảm áp lực lên cát tự nhiên.
Để hướng đi này phát huy hiệu quả, cần đánh giá đúng nhu cầu sử dụng, kiểm soát chất lượng sản phẩm, tính toán giá thành đến chân công trình và khả năng tiêu thụ thực tế. Đồng thời, cần khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tận dụng nguồn nguyên liệu phù hợp và bảo đảm các yêu cầu về môi trường, tiêu chuẩn kỹ thuật.

Dây chuyền sản xuất cát nghiền nhân tạo cho ra hạt cát đồng đều, có thể điều chỉnh tỷ lệ thành phần theo từng yêu cầu cấp phối cho các loại bê tông khác nhau.
Theo ông Tài, việc có thêm doanh nghiệp đầu tư công nghệ sản xuất cát nhân tạo sẽ góp phần bổ sung nguồn vật liệu phục vụ các công trình trọng điểm và công trình dân dụng trên địa bàn. Về lâu dài, sở sẽ rà soát, đánh giá nhu cầu cát nhân tạo theo từng khu vực, từng loại công trình để định hướng sản xuất phù hợp, tránh đầu tư theo phong trào hoặc phát triển công suất vượt quá khả năng tiêu thụ.
Cát nghiền nhân tạo cho thấy nhiều ưu điểm, như: Hạt cát đồng đều, có thể điều chỉnh tỷ lệ thành phần theo từng yêu cầu cấp phối cho các loại bê tông khác nhau. Hơn nữa sử dụng cát nghiền nhân tạo sẽ tiết kiệm xi măng, rút ngắn thời gian thi công và tăng tuổi thọ công trình. Lợi ích lớn nhất của sử dụng cát nghiền nhân tạo thay thế cát tự nhiên sẽ hạn chế việc nạo, hút cát tự nhiên tại các dòng sông, suối, giảm mức độ ảnh hưởng xấu đến môi trường.
Để cát nhân tạo trở thành nguồn vật liệu được sử dụng rộng rãi, cần từng bước đánh giá chất lượng trong thực tế, xác định rõ phạm vi sử dụng phù hợp, công khai thông tin về nguồn gốc và chất lượng sản phẩm, đồng thời tính toán đầy đủ chi phí sản xuất, vận chuyển và sử dụng.
Khi doanh nghiệp chứng minh được chất lượng, giá thành và khả năng cung ứng ổn định, còn cơ quan quản lý có định hướng phát triển sát nhu cầu, cát nhân tạo mới có thể phát huy vai trò bổ sung nguồn cung, góp phần giảm áp lực lên tài nguyên cát tự nhiên và đáp ứng yêu cầu phát triển xây dựng bền vững của Nghệ An.