Y tế

Người chiến sĩ quân y và những ca mổ giữa bom rơi đạn réo

-

Gần hai thập kỷ gắn bó với chiến trường, cuộc đời Thượng uý Giang Văn Toản là hành trình bền bỉ giành giật sự sống cho đồng đội giữa bom rơi đạn réo khốc liệt.

Lấy nước dừa làm dịch truyền, mật ong làm kháng sinh "đặc trị"

Trong ký ức của vị bác sĩ quân y già Giang Văn Toản, những năm 1970-1971 là thời điểm ác liệt nhất. Khi ấy, đơn vị quân y do ông phụ trách hoạt động ở nhiều nơi như Mỹ Tho, Cái Bè, Cai Lậy và ở cả biên giới Việt Nam - Campuchia. Đơn vị có khoảng 150 cán bộ, hoạt động phần lớn trong các hầm bí mật. Có thời điểm, họ mất liên lạc với cấp trên suốt 3 tháng. Thương binh dồn về ngày một nhiều, mỗi đợt từ 60 đến 80 người.

Người chiến sĩ quân y và những ca mổ giữa bom rơi đạn réo - Ảnh 1.
Người chiến sĩ quân y và những ca mổ giữa bom rơi đạn réo - Ảnh 2.

Chiến sĩ quân y Giang Văn Toản thời trẻ và bây giờ.

"Có những lúc đang mổ, chúng tôi không dám đứng mà phải ngồi thụp xuống mà làm, vì địch bắn rát quá", ông Toản nhớ lại.

Trên chiến trường hiểm nghèo, thiếu thốn đủ đường, ông và các bác sĩ quân y buộc phải "liệu cơm gắp mắm" để cứu sống thương binh. Bàn mổ khi ấy chỉ là những thân tre ghép lại, phủ ni-lông, xung quanh được ngụy trang bằng cành lá. Để ngăn côn trùng, đặc biệt là muỗi bay vào vết thương, các bác sĩ phải mắc màn để mổ. Trong những ca mổ đêm, ánh sáng duy nhất là chiếc đèn bìm leo lắt. Cả bác sĩ lẫn chiến sĩ bị thương đều phải nỗ lực hết mình, vì chỉ cần một tiếng kêu, cả tổ phẫu thuật có thể bị địch phát hiện.

Ông Toản kể lại, điều kiện chiến trường đã khốc liệt, gian khổ, nhưng khổ nhất là thiếu thuốc men, vật tư y tế. Trong những năm chiến đấu ở Long An, ông Toản đã từng phải bán chiếc đồng hồ kỷ niệm được người dân tặng để đổi lấy kháng sinh cứu người. Nhiều khi, ông và đồng đội phải nhờ người dân ra khỏi vùng định để mua thuốc, đối mặt với nguy cơ bị bắt bất cứ lúc nào. 

Thượng úy, bác sĩ quân y Giang Văn Toản, sinh năm 1943 tại Quốc Oai (Hà Nội). Ông nhập ngũ ngày 11/4/1963 và được biên chế về Trung đoàn 320 của Bộ Quốc phòng.

Năm 1965, ông Giang Văn Toản được đơn vị cử đi học học y tá tại Viện 2, Mặt trận Tây Nguyên B3. Sau một năm, ông chuyển sang học ở Bệnh viện K71 Quân Giải phóng miền Nam và năm 1967 tiếp tục học lên bác sĩ ngoại khoa.

Sau khi học xong, ông Giang Văn Toản được phân trở về Trung đoàn 320, lần lượt trải qua các vị trí, rồi trở thành cán bộ phụ trách quân y kiêm Đại đội trưởng huấn luyện y tá của Trung đoàn. Ông được phong quân hàm Thiếu úy năm 1969 khi công tác tại Trung đoàn 320.

Năm 1978, ông được phong quân hàm Trung úy trong thời gian giữ chức Chủ nhiệm khoa Ngoại kiêm Đội trưởng Đội phẫu Trung đoàn 8. Ông về hưu năm 1981 với cấp bậc Thượng uý.

Trong phẫu thuật, phần lớn các ca cắt cụt tay chân chỉ được gây tê, còn gây mê chỉ dùng cho những ca thật sự nặng, bởi gây mê cần theo dõi hậu phẫu - điều gần như không thể thực hiện trong điều kiện chiến trường ác liệt. Khi không có dịch truyền, các quân y phải dùng nước dừa từ loại dừa bánh tẻ để truyền trực tiếp cho bệnh nhân. 

Lúc thiếu kháng sinh, mật ong rừng trở thành "thuốc đặc trị", được bơm thẳng vào vết thương để chống nhiễm trùng. Bông băng trong phẫu thuật được lấy từ vải thô, sau khi được dùng xong thì không được bỏ đi, mà phải giặt sạch, phơi khô rồi hấp lại để tái sử dụng. Giữa lằn ranh sinh tử, sự sống vẫn được giành giật bằng tất cả những gì con người có thể sáng tạo và tận dụng được.

Người chiến sĩ quân y và những ca mổ giữa bom rơi đạn réo - Ảnh 3.

Vật bất ly thân trong suốt cuộc đời ông Toản là những cuốn sổ ghi chép tỉ mỉ chuyên môn y khoa.

Cuốn "sách y khoa" trên hành trình vào sinh ra tử 

Trong hành trang ra trận năm ấy, thứ ông Toản mang theo không chỉ là những dụng cụ y tế, mà còn có những cuốn sổ ghi chép viết tay từ thời còn ngồi trên giảng đường Bệnh viện K71. Từng trang giấy đã ngả màu theo năm tháng, chi chít những dòng chữ nắn nót, xen lẫn các hình vẽ giải phẫu được ông tỉ mỉ phác họa. Giữa chiến trường khắc nghiệt, khi điều kiện thiếu thốn đến cùng cực, những cuốn sổ ấy trở thành "kho báu" quý giá, giúp ông trong những ca mổ sinh tử. Không chỉ dùng để cứu giúp bệnh nhân, những cuốn sổ cũng trở thành "sách giáo khoa" để ông giảng dạy, hướng dẫn các quân y mới ngay tại chiến trường.

"Sổ sách này là từ thời còn đi học, đều là cô đọng kiến thức từ sách giáo khoa. Các cuốn sổ tôi viết vào khoảng năm 1966-1968. Ngày nào không phải công tác thì tôi sẽ tóm tắt lại từ trong sách, ghi chép lại rồi mang theo bên mình lúc chiến đấu. Ở mặt trận thì mấy tài liệu này quý lắm, nên lúc nào cũng phải giữ gìn", ông Toản kể lại.

Giữa mưa bom, bão đạn, bác sĩ Giang Văn Toản chưa từng rời tay khỏi những "báu vật" ấy. Ông cẩn thận bọc chúng trong nhiều lớp ni-lông, giấu kín trong ba lô, giữ gìn chúng như giữ chính sinh mạng của mình. Với ông, những cuốn sổ là tri thức, là niềm tin, là điểm tựa để ông vững vàng trong hành trình giành giật sự sống cho đồng đội giữa một thời khói lửa.

Không khí ngày 30/4 năm ấy, ông chia sẻ, là ký ức không thể nào quên. "Lúc đó, chúng tôi vẫn đang chiến đấu, đang chữa trị cho thương binh. Nhận được tin chiến thắng qua đài, anh em phấn khởi và vui mừng lắm", ông cười. Khi tin chiến thắng vang về, dòng người từ khắp nơi đổ về Sài Gòn trong niềm hân hoan, phấn khởi. Những con đường chật kín bước chân, cờ bay rợp trời. Sau bao năm bom đạn, đó là lần đầu tiên họ cảm nhận rõ ràng đến thế hai chữ "hòa bình".

Trung đoàn 320 hành quân vào chiến trường miền Nam năm 1964 với quân số gần 2.800 cán bộ, chiến sĩ. Đến ngày 30/4/1975, toàn đơn vị chỉ còn lại 17 người; ông là một trong số đó.

Khoảng 5 tháng kể từ ngày hòa bình, bác sĩ Giang Văn Toản mới có dịp về phép để lập gia đình. Song chỉ sau 15 ngày cưới vợ, ông lại tiếp tục quay lại đơn vị để tham gia chiến đấu chống Khmer Đỏ ở Campuchia, đảm nhiệm vị trí Trưởng khoa ngoại, Bệnh xá Sư đoàn 8 và phụ trách đội Phẫu thuật. Trong quãng thời gian ở nước bạn, điều kiện thiếu thốn khiến việc liên lạc với hậu phương trở nên bất khả thi, ông kể rằng gần như không có dịp gửi thư về cho vợ.

Bảy lần bị thương và lời thề "lương y như từ mẫu"

Gần 20 năm chiến đấu, bác sĩ Giang Văn Toản bị thương tới 7 lần, với tỷ lệ thương tật 71%. Thậm chí, đã có lần ông gần như cận kề cái chết khi bị đạn bắn vào vùng miệng, gãy đến 5 cái răng. Nhưng có một vết thương mà ông không thể nào quên.

Người chiến sĩ quân y và những ca mổ giữa bom rơi đạn réo - Ảnh 4.

Vết thương chiến tranh còn hiện hữu trên cánh tay ông Toản.

"Ở chiến trường Campuchia chống quân Pol-Pot, tôi bị địch bắn vào tay, nhưng lúc đó đồng đội bị thương quá nhiều, không thể đưa ra tuyến sau được, vì phải đi xuồng, mất 6-7 tiếng, không kịp. Tôi phải nhờ anh em băng bó tạm rồi tiếp tục cứu chữa cho thương binh. Hoàn toàn là ý chí quyết tâm vì đồng đội", ông Toản kể. Giữa làn đạn máy bay, ông cùng đồng đội ôm thương binh lao xuống hầm, vừa băng bó vừa giữ lại sự sống.

Sau khi nghỉ hưu vào tháng 6/1981, bác sĩ Giang Văn Toản trở về bên gia đình, bắt đầu cuộc sống đời thường và tham gia làm kinh tế. Rời chiến trường sau gần hai thập kỷ gắn bó, người lính quân y năm nào mang theo bên mình không chỉ những vết thương chiến tranh, mà còn cả ký ức về một thời tuổi trẻ dành trọn cho đồng đội và Tổ quốc. Với ông, đó chưa bao giờ là sự tiếc nuối, mà là niềm tự hào về những năm tháng tuổi trẻ cống hiến hết mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Trong suốt những năm tháng chiến tranh khốc liệt nhất, sự cống hiến ông Toản cùng các đồng đội đã mang lại sự sống cho nhiều chiến sĩ không may mắn bị thương. Trở về gia đình với vết thương do những mảnh đạn pháo từng găm trong ổ bụng, người thương binh Nguyễn Thanh Bình (SN 1953, Hà Nội) vẫn mãi khắc cốt ghi tâm về thời khắc thoát khỏi tay thần chết nhờ cứu chữa kịp thời của các bác sĩ quân y trên chiến trường. "Không có đồng đội, không có các bác sĩ quân y, có lẽ tôi đã nằm lại ở chiến trường vào năm 1972", ông Bình xúc động chia sẻ.

Tác giả: Thành Vinh, Thảo Phương