Những con đường mở lối ấm no nơi vùng cao Lai Châu
Những con đường bê tông vươn tới bản xa, những mùa sinh kế mới đang nảy nở trên miền sơn cước Lai Châu. Từ sức dân và những chính sách đúng hướng, nông thôn vùng cao từng bước đổi thay, mở lối ấm no, dựng xây cuộc sống bền vững.
Những con đường mở lối đổi thay
Trên con đường vào bản Lao Chải, xã Khun Há, tỉnh Lai Châu, tôi có dịp trò chuyện với anh Mùa A Sua, một người dân đang sinh sống tại bản. Nhắc đến những đổi thay trên quê hương, anh vui vẻ chia sẻ: "Được quan tâm của Đảng và Nhà nước, cuộc sống của người dân chúng tôi đã được nâng cao hơn rất nhiều".

Những con đường mới vươn tới bản xa, nối gần khoảng cách, mở lối phát triển cho vùng cao Lai Châu.
Anh Sua kể tiếp: "Nhờ có đường giao thông thuận lợi từ chương trình nông thôn mới, bà con giờ đã tham gia làm du lịch phát triển kinh tế, đời sống khác hẳn trước đây".
Trên chiếc xe Minsk, anh Sua đưa tôi lên thăm khu hợp tác xã trồng sâm của bản, đồng thời kể thêm về những thành quả mà chương trình xây dựng nông thôn mới mang lại cho quê hương mình. Những con đường thuận lợi hơn không chỉ giúp người dân đi lại dễ dàng mà còn mở ra cơ hội phát triển kinh tế, cải thiện đời sống.
Với đặc thù địa hình đồi núi phức tạp, địa bàn rộng và bị chia cắt, việc di chuyển đến các khu dân cư tại Lai Châu không hề dễ dàng. Bởi vậy, để xây dựng hạ tầng nông thôn, bên cạnh sự đầu tư của Nhà nước còn có sự đóng góp đáng kể của người dân.
Trong quá trình xây dựng nông thôn mới, nhân dân trong tỉnh đã đóng góp gần 8.000 ngày công, hiến 76.947m² đất để xây dựng, sửa chữa trường học, đường giao thông nông thôn, giao thông nội đồng, nhà văn hóa và chỉnh trang cảnh quan.
Tại bản Sìn Cầu, xã Sin Suối Hồ, ông Giàng A Tủa cũng là một trong những người dân tự nguyện đóng góp đất để mở đường. Ông chia sẻ: "Được sự vận động và mong muốn có đường bê tông để giúp bà con đi lại thuận tiện, các cháu được đến trường, tôi đã hiến hơn 1.000m² đất để làm đường bê tông liên xã".
Từ những đóng góp cụ thể ấy, các công trình hạ tầng từng bước được hình thành, góp phần cải thiện điều kiện đi lại, học tập và sinh hoạt của người dân vùng cao. Sự đồng lòng của nhân dân cùng quyết tâm của các cấp, ngành đã tạo nền tảng quan trọng để Lai Châu tiếp tục triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn tiếp theo.
Đến nay, kết cấu hạ tầng nông thôn của tỉnh từng bước được đầu tư đồng bộ; sản xuất nông nghiệp có chuyển biến tích cực, hình thành các vùng sản xuất tập trung gắn với liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 3,9%/năm; thu nhập bình quân khu vực nông thôn đạt 28,9 triệu đồng/người/năm. Hơn 1.000 hộ dân đã được di dời khỏi vùng thiên tai, sạt lở nguy hiểm.
Đó là những chuyển biến đáng ghi nhận tại một địa phương còn nhiều khó khăn về điều kiện tự nhiên và hạ tầng, đồng thời cho thấy vai trò của chương trình xây dựng nông thôn mới trong việc từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Dù đạt được những kết quả tích cực, Lai Châu vẫn đối mặt với không ít khó khăn. Tỷ lệ hộ nghèo còn cao, nguy cơ tái nghèo lớn; 32/36 xã và 564/956 bản vẫn thuộc diện đặc biệt khó khăn. Hạ tầng tại nhiều vùng sâu, vùng xa còn thiếu và chưa đồng bộ, trong khi thu nhập của người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vẫn ở mức thấp.
Thực tế đó đặt ra yêu cầu phải đổi mới cách tiếp cận trong xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững. Không chỉ tiếp tục đầu tư hạ tầng, hỗ trợ an sinh, Lai Châu cần tạo thêm sinh kế, thúc đẩy sản xuất hàng hóa, phát huy tiềm năng địa phương và nâng cao khả năng tự vươn lên của người dân.
Trên cơ sở đó, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lai Châu ban hành Nghị quyết số 17-NQ/TU về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Cụ thể hóa định hướng này, UBND tỉnh Lai Châu đã ban hành Kế hoạch số 5434/KH-UBND ngày 1/7/2026, triển khai giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035. Kế hoạch xác định mục tiêu huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển hạ tầng đồng bộ, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hàng hóa, nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững, phát triển nguồn nhân lực và chuyển đổi số.
Qua đó, tỉnh hướng tới xây dựng khu vực nông thôn phát triển toàn diện, xanh, hiện đại và giàu bản sắc.
Theo mục tiêu đề ra, đến năm 2030, thu nhập bình quân khu vực nông thôn đạt 47,5 triệu đồng/người/năm; thu nhập bình quân của đồng bào dân tộc thiểu số đạt bằng một nửa mức bình quân chung cả nước. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân từ 3-4%/năm, đưa tỷ lệ hộ nghèo đa chiều xuống dưới 10%; cơ bản không còn xã, bản đặc biệt khó khăn và có ít nhất 10 xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Xa hơn, đến năm 2035, Lai Châu phấn đấu nâng thu nhập khu vực nông thôn lên ít nhất 1,6 lần so với năm 2030; giảm ít nhất 50% số xã, bản khó khăn và có 20 xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Những mục tiêu này cho thấy định hướng phát triển của tỉnh không dừng ở việc cải thiện các điều kiện sống trước mắt, mà hướng đến tạo chuyển biến bền vững về thu nhập, sinh kế và chất lượng đời sống của người dân vùng nông thôn, miền núi.

Từ núi cao, thung lũng đến những bản làng giàu bản sắc, Lai Châu từng bước tạo sức hút riêng trên bản đồ du lịch.
Ưu tiên hạ tầng, thúc đẩy chuyển đổi số
Hạ tầng tiếp tục là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong kế hoạch xây dựng nông thôn mới của Lai Châu. Đây là điều kiện quan trọng để kết nối các khu dân cư, tạo thuận lợi cho sản xuất, lưu thông hàng hóa và tiếp cận các dịch vụ thiết yếu.
Ông Lê Quốc Khánh, Trưởng phòng Quy hoạch kiến trúc và nhà ở, Sở Xây dựng Lai Châu, cho biết tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 có trên 95% đường xã được cứng hóa; 80% dân số nông thôn được sử dụng nước sạch và 99% hộ dân được dùng điện lưới quốc gia.
Các công trình thiết yếu được ưu tiên đầu tư gồm giao thông, thủy lợi, hệ thống điện nông thôn, trường học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, hạ tầng thương mại và dịch vụ, trạm y tế, hạ tầng vùng nguyên liệu tập trung, hạ tầng số và viễn thông.
Bên cạnh đó, tỉnh chú trọng phát triển hệ thống truyền thanh cơ sở, công trình cấp nước sạch tập trung, thiết chế văn hóa - thể thao vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, hạ tầng thu gom, xử lý chất thải rắn cùng các công trình phục vụ quốc phòng - an ninh tại khu vực biên giới.
Cùng với đầu tư hạ tầng vật chất, Lai Châu xác định chuyển đổi số là một hướng đi quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý, trong đó có công tác quy hoạch nông thôn mới.
Theo ông Lê Quốc Khánh, phương pháp quản lý quy hoạch truyền thống với bản vẽ giấy, dữ liệu phân tán, khó cập nhật và tra cứu còn bộc lộ nhiều bất cập. Việc ứng dụng công nghệ thông tin địa lý (GIS) giúp số hóa, trực quan hóa và hiện đại hóa công tác quy hoạch, hỗ trợ các cơ quan, đơn vị và địa phương quản lý phát triển theo quy hoạch hiệu quả hơn.
Lộ trình "GIS hóa" quy hoạch nông thôn mới tại Lai Châu hướng tới phục vụ công tác quản lý và kết nối đồng bộ với Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về quy hoạch. Đây được xác định là một bước đột phá trong chuyển đổi số hoạt động quản lý quy hoạch nông thôn mới của tỉnh.
Để triển khai, địa phương cần đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin, thiết bị đo đạc và máy chủ lưu trữ dữ liệu; đồng thời tổ chức đào tạo, tập huấn kỹ năng ứng dụng GIS cho đội ngũ cán bộ làm công tác quy hoạch và xây dựng nông thôn mới cấp xã. Việc chuẩn hóa dữ liệu trước khi đồng bộ lên nền tảng quốc gia cũng được đặt ra, bảo đảm dữ liệu quy hoạch theo tiêu chí "đúng - đủ - sạch - sống".
Theo ông Khánh, hệ thống GIS hiện đã và đang được ứng dụng tại Lai Châu trong nhiều lĩnh vực như quy hoạch xây dựng, sử dụng đất, tài nguyên môi trường, giao thông vận tải và đo đạc bản đồ.
Việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý quy hoạch, nếu được triển khai đồng bộ, sẽ góp phần hỗ trợ địa phương theo dõi, cập nhật dữ liệu và nâng cao hiệu quả quản lý hạ tầng nông thôn trong quá trình phát triển.
Song song với phát triển hạ tầng và chuyển đổi số, Lai Châu tập trung cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát triển sản xuất hàng hóa gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Đây là hướng đi nhằm tạo thêm việc làm, nâng cao giá trị sản xuất và cải thiện thu nhập cho người dân nông thôn.
Tỉnh định hướng phát triển các vùng nguyên liệu quy mô lớn, gồm hơn 10.000ha chè, 12.500ha quế, 7.400ha mắc ca, 7.400ha cây ăn quả và 3.500ha lúa hàng hóa. Cùng với đó là phát triển các loại dược liệu quý như sâm Lai Châu, tam thất, đương quy và sa nhân, gắn với bảo vệ, phát triển rừng.
Để thúc đẩy liên kết sản xuất, tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 460 hợp tác xã, trong đó hơn 250 hợp tác xã nông - lâm - ngư nghiệp. Đồng thời, Lai Châu phấn đấu có 80% hộ nông dân là người dân tộc thiểu số tham gia sản xuất nông - lâm nghiệp hàng hóa.
Định hướng này cũng gắn với yêu cầu khai thác hiệu quả các lợi thế sẵn có của địa phương, từ điều kiện tự nhiên, sản phẩm nông nghiệp đến các giá trị văn hóa truyền thống. Khi sản xuất được tổ chức theo hướng hàng hóa và có sự liên kết, người dân sẽ có thêm cơ hội tham gia vào các chuỗi sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, từng bước cải thiện sinh kế.
Không chỉ có tiềm năng về nông nghiệp, Lai Châu còn sở hữu nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch. Địa phương được mệnh danh là "Vương quốc các đỉnh núi cao", với 6 trong số 10 ngọn núi cao nhất Việt Nam, gồm Pu Si Lung, Putaleng, Bạch Mộc Lương Tử (Kỳ Quan San), Khang Su Văn, Tả Liên Sơn và Pờ Ma Lung.
Đây là những điểm đến dành cho người yêu thích leo núi, du lịch mạo hiểm và khám phá. Bên cạnh đó, tỉnh còn có đèo Ô Quy Hồ, một trong "tứ đại đỉnh đèo" miền Bắc; động Pu Sam Cap được gọi là "Tây Bắc đệ nhất động"; thác Tắc Tình và cao nguyên Sìn Hồ.
Những lợi thế về cảnh quan, văn hóa và sản phẩm đặc trưng tạo dư địa để Lai Châu phát triển các loại hình du lịch gắn với cộng đồng, qua đó mở rộng cơ hội sinh kế cho người dân nông thôn.



Đánh thức vẻ đẹp miền sơn cước, những điểm đến của Lai Châu ngày càng mở ra nhiều cơ hội phát triển du lịch.
Phát triển du lịch đi đôi với gìn giữ bản sắc
Trong chuyến công tác tại Lai Châu vào tháng 10 vừa qua, chúng tôi có dịp tìm hiểu đời sống người dân tại những địa bàn đang từng bước đổi thay nhờ chương trình xây dựng nông thôn mới.
Sin Suối Hồ là một trong những địa bàn có nhiều chuyển biến. Trước đây, địa phương từng có tình trạng trồng và sử dụng cây thuốc phiện. Sau nhiều năm phát triển du lịch cộng đồng, du lịch xanh, bản đã trở thành bản văn minh "5 không": không thuốc phiện, không uống rượu, không thuốc lá, không cờ bạc và không xả rác.
Năm 2025, Sin Suối Hồ được trao danh hiệu "Bản du lịch cộng đồng tốt nhất Việt Nam" thuộc Giải thưởng Du lịch Việt Nam.
Sự chuyển biến tại đây cho thấy phát triển du lịch cộng đồng có thể gắn với những thay đổi trong đời sống và nếp sinh hoạt của người dân. Tuy nhiên, để hướng đi này phát huy hiệu quả lâu dài, việc phát triển kinh tế cần song hành với bảo tồn những giá trị văn hóa bản địa.
Ông Trần Quang Kháng, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Du lịch và Thể thao tỉnh Lai Châu, nhận định địa phương có nhiều tiềm năng và sản phẩm du lịch, song thông tin về Lai Châu vẫn còn hạn chế.
Đặt ra bài toán phát triển du lịch theo hướng nhanh và bền vững, ông Trần Quang Kháng nhấn mạnh: "Nếu phát triển quá nhanh, thu hút lượng lớn du khách với những nhu cầu khác nhau mà thiếu định hướng, địa phương có thể đứng trước nguy cơ xáo trộn đời sống và mai một những giá trị văn hóa bản địa. Phát triển du lịch nhưng vẫn phải giữ gìn được văn hóa bản địa".
Đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với quá trình xây dựng nông thôn mới tại Lai Châu: phát huy lợi thế địa phương nhưng không đánh đổi những giá trị vốn có; mở rộng sinh kế nhưng vẫn bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và đời sống cộng đồng.
Từ những con đường bê tông được mở rộng nhờ sự chung sức của người dân, những vùng nguyên liệu nông nghiệp đang được định hướng phát triển đến các mô hình du lịch cộng đồng, Lai Châu đang từng bước xây dựng nền tảng cho giai đoạn phát triển mới.
Chặng đường phía trước vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là tại các xã, bản đặc biệt khó khăn, nơi hạ tầng chưa đồng bộ và thu nhập của người dân còn thấp. Tuy nhiên, với những mục tiêu cụ thể về giảm nghèo, nâng cao thu nhập, phát triển sản xuất hàng hóa, hoàn thiện hạ tầng và chuyển đổi số, tỉnh đang hướng tới cách tiếp cận toàn diện hơn trong xây dựng nông thôn mới.
Đích đến không chỉ là những xã đạt chuẩn hay những công trình được hoàn thành, mà còn là cuộc sống ngày càng tốt hơn của người dân, khả năng tự tạo sinh kế và gìn giữ bản sắc văn hóa trên chính quê hương mình.