PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến: Hạ tầng phải đi trước, dẫn dắt phát triển đô thị
Sau hơn nửa thế kỷ phát triển, hạ tầng đô thị Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới. PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến, nguyên Cục trưởng Cục hạ tầng kỹ thuật (Bộ Xây dựng) trao đổi với Báo Xây dựng về những đột phá cần thiết trong giai đoạn mới.
Từ "phục vụ đô thị" đến "dẫn dắt phát triển"
-Thưa ông, nhìn lại hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, ông đánh giá hạ tầng kỹ thuật đã đóng góp như thế nào vào quá trình đô thị hóa, phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng sống của người dân?
Trước hết, hệ thống giao thông, cấp điện, cấp nước, thoát nước, xử lý chất thải, chiếu sáng, công viên, thông tin liên lạc… đã tạo bộ khung vật chất để cải tạo các đô thị hiện hữu, hình thành khu đô thị mới, khu công nghiệp và các trung tâm kinh tế.

PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến, nguyên Cục trưởng Cục hạ tầng kỹ thuật (Bộ Xây dựng).
Hạ tầng đi trước cũng tạo động lực trực tiếp cho tăng trưởng. Đường bộ, cầu, cảng, sân bay, đường sắt đô thị và các công trình hạ tầng khung giúp giảm chi phí vận chuyển, tăng khả năng kết nối thị trường. Nhiều công trình quy mô lớn còn mở ra các hành lang, cực tăng trưởng mới, làm thay đổi giá trị và phương thức sử dụng đất.
Đây cũng là điều kiện quan trọng để thu hút đầu tư. Các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao chỉ có thể phát triển khi được bảo đảm giao thông, điện, nước, xử lý nước thải, logistics và viễn thông. Vì vậy, hạ tầng không chỉ phục vụ mà còn góp phần tổ chức lại không gian sản xuất và phát triển kinh tế.
Đặc biệt, chất lượng sống của người dân đã thay đổi rõ rệt. So với những năm sau 1975, khả năng tiếp cận nước sạch, thoát nước, vệ sinh môi trường, giao thông, chiếu sáng và các dịch vụ thiết yếu đã được cải thiện căn bản. Hệ thống đường phố, cầu, công viên, cây xanh, quảng trường cũng góp phần làm thay đổi diện mạo nhiều đô thị.
Trong giai đoạn hiện nay, hạ tầng còn giữ vai trò ngày càng lớn trong bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu và nâng cao khả năng chống chịu.
Có thể khái quát rằng, hơn nửa thế kỷ qua, hạ tầng kỹ thuật đô thị đã đi từ "phục vụ đô thị" đến "tạo lập đô thị"; giai đoạn tới phải tiến tới "dẫn dắt phát triển đô thị".
-Tuy nhiên, ùn tắc, ngập úng, quá tải hạ tầng, xử lý nước thải còn hạn chế vẫn là vấn đề của nhiều đô thị. Theo ông, đâu là những nút thắt cần tháo gỡ?
Theo tôi, điểm nghẽn không chỉ nằm ở việc thiếu công trình hay nguồn vốn mà còn ở phương thức quản lý hạ tầng.
Hiện nay, quản lý vẫn thiên về từng công trình riêng lẻ, trong khi đô thị là một hệ thống có tính liên kết cao. Giao thông liên quan đến sử dụng đất; cấp nước gắn với nguồn nước và tài nguyên nước; cây xanh, hồ điều hòa; năng lượng, viễn thông và môi trường cũng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Vì vậy, cần chuyển từ quản lý từng công trình sang quản trị hệ thống hạ tầng tích hợp, đồng bộ, đa chức năng, xanh, thông minh và có khả năng chống chịu.
Một hạn chế khác là hạ tầng được quản lý theo từng giai đoạn và bởi nhiều chủ thể, trong khi trách nhiệm đối với hiệu quả cuối cùng trong suốt quá trình sử dụng chưa thực sự rõ. Do đó, cần chuyển từ quản lý dự án xây dựng sang quản trị tài sản hạ tầng theo toàn bộ vòng đời công trình.
Bên cạnh đó, dữ liệu còn phân tán, năng lực dự báo hạn chế; quản lý giữa giao thông, đất đai, tài nguyên nước, môi trường, năng lượng, viễn thông còn thiếu tính thống nhất và đồng bộ. Các công trình có tính liên tỉnh, liên đô thị ( như giao thông cấp nước, thoát nước, xử lý chất thải rắn…) cũng cần có một cơ chế phối hợp, điều phối hiệu quả hơn.
-Vậy cần thay đổi cách quản trị như thế nào để khắc phục tình trạng đầu tư và vận hành hạ tầng thiếu đồng bộ, thưa ông?
Cần thay đổi căn bản cách quản lý hạ tầng. Thay vì mỗi ngành quản lý riêng từng công trình, từng dự án và chủ yếu trong phạm vi địa giới hành chính của mình, cần chuyển sang quản trị hạ tầng như một hệ thống thống nhất, có sự liên kết giữa các lĩnh vực, giữa các đô thị và các địa phương.
Đồng thời, việc quản lý không nên chỉ tập trung vào giai đoạn đầu tư xây dựng mà phải bao quát toàn bộ vòng đời công trình, từ quy hoạch, đầu tư, vận hành, bảo trì đến cải tạo, nâng cấp. Qua đó, hạ tầng mới được đầu tư đồng bộ, khai thác hiệu quả và đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển lâu dài của đô thị.

Sau hơn 50 năm phát triển, hạ tầng đô thị Việt Nam từng bước được đầu tư đồng bộ, hiện đại, tạo nền tảng nâng cao chất lượng sống và diện mạo đô thị. (Ảnh: Kim Thoa)
Chẳng hạn, không thể giải quyết ngập chỉ bằng đầu tư mở rộng mạng lưới cống thoát nước mà phải đồng thời bắt đầu từ quy hoạch sử dụng đất, cao độ nền, hồ điều hòa, không gian xanh, khả năng trữ nước và biến đổi khí hậu.
Tương tự, ùn tắc không thể chỉ giải quyết bằng mở đường. Giao thông phải gắn với phân bố lại dân cư, việc làm, sử dụng đất và vận tải công cộng.
Khi hạ tầng được nhìn nhận như một hệ thống thống nhất, các nguồn lực đầu tư mới được phân bổ hợp lý và hiệu quả vận hành cũng được nâng lên.
Số hóa hạ tầng, đổi mới phương thức đầu tư
-Theo ông dữ liệu, GIS, BIM, IoT, AI hay Digital Twin có thể tạo ra thay đổi như thế nào trong quản trị hạ tầng đô thị?
PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến: Dữ liệu và công nghệ phải trở thành nền tảng của quản trị hạ tầng đô thị trong giai đoạn mới.
Chúng ta cần xây dựng nền tảng dữ liệu hạ tầng thống nhất trên cơ sở GIS, BIM, IoT, AI và các công cụ mô hình hóa; từng bước phát triển Digital Twin - bản sao số đô thị.
Khi dữ liệu được tích hợp, cơ quan quản lý có thể theo dõi trạng thái hệ thống, dự báo nhu cầu và nhận diện sớm rủi ro. Ví dụ, nếu dữ liệu về lượng mưa, địa hình, hệ thống cống, hồ điều hòa và trạm bơm được kết nối, việc dự báo ngập và điều hành thoát nước sẽ chủ động, hiệu quả hơn.
Điều quan trọng là chuyển từ cách quản lý mang tính phản ứng, sự cố xảy ra mới xử lý, sang quản trị chủ động, dự báo và ra quyết định trên cơ sở dữ liệu.
- Để hạ tầng thực sự đi trước và trở thành động lực dẫn dắt phát triển đô thị, theo ông, đâu là những đột phá cần ưu tiên trong giai đoạn tới?
Trước hết phải đổi mới phương thức đầu tư. Thay vì đầu tư từng công trình riêng lẻ, cần chuyển sang đầu tư theo chương trình tích hợp cho một khu vực, hành lang hoặc không gian phát triển.
Một tuyến giao thông mới không nên chỉ được nhìn nhận như một con đường. Nếu được tích hợp với quy hoạch sử dụng đất, vận tải công cộng, TOD, hạ tầng xã hội và các khu vực phát triển mới, tuyến đường có thể mở ra hành lang kinh tế và tạo những cực tăng trưởng mới.

Từ giao thông, cấp thoát nước đến chiếu sáng, cây xanh và xử lý môi trường, hạ tầng kỹ thuật đô thị ngày càng hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu phát triển của giai đoạn mới. (Ảnh: Kim Thoa)
Cùng với đó, cần hoàn thiện quản trị tích hợp, xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất, nâng cao năng lực dự báo dài hạn và tăng hiệu quả điều phối đối với hạ tầng liên tỉnh, liên đô thị.
Nếu hơn 50 năm trước, trọng tâm là mở rộng hạ tầng và tăng độ bao phủ dịch vụ thì giai đoạn tới yêu cầu đã cao hơn. Hạ tầng phải đồng bộ, xanh, thông minh, số hóa, phát thải thấp và có khả năng chống chịu.
Chúng ta không thể chờ đô thị mở rộng, dân số tăng, ùn tắc hay ngập úng xuất hiện rồi mới đầu tư hạ tầng để xử lý. Hạ tầng phải được chuẩn bị trước, tạo bộ khung tổ chức không gian, định hướng đầu tư và nâng cao chất lượng sống.
Hạ tầng đi trước không chỉ để đáp ứng nhu cầu của đô thị hôm nay, mà phải có khả năng kiến tạo và dẫn dắt đô thị của tương lai.