Chính trị

Phải phòng ngừa, xử lý hiệu quả hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

-

Đại biểu Nguyễn Trung Kiên nhấn mạnh, việc sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ cần hướng đến phòng ngừa, xử lý hiệu quả hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; bảo đảm hành lang pháp lý phù hợp với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo.

Sáng 3/11, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội họp phiên toàn thể tại hội trường, thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.

Phải phòng ngừa, xử lý hiệu quả hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ- Ảnh 1.

Đại biểu Nguyễn Trung Kiên (Đoàn Đồng Nai). Ảnh: Media Quốc hội.

Đại biểu Nguyễn Trung Kiên (Đoàn Đồng Nai) nhấn mạnh đây là một bộ luật rất lớn và rất khó. "Nếu không bảo vệ tốt quyền sở hữu trí tuệ thì chắc chắn không thể thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo", ông Kiên nói.

Về phòng chống vi phạm bản quyền trên môi trường số, vị đại biểu là Ủy viên chuyên trách tại Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại cho rằng, thời gian qua, vi phạm bản quyền ở nước ta diễn biến phức tạp. Nhiều website lậu, dịch vụ truyền hình trực tuyến trái phép, hoạt động sao chép và khai thác tác phẩm âm nhạc, văn học trên các nền tảng số, gây thiệt hại nặng nề cho các chủ thể quyền.

Trong năm 2026, cơ quan chức năng đã khởi tố nhiều vụ án hình sự liên quan đến hành vi xâm phạm quyền tác giả. Đây là quyết tâm lớn của cơ quan chức năng trong phát hiện, đấu tranh và xử lý vi phạm nhằm đảm bảo môi trường sở hữu trí tuệ lành mạnh.

Tuy nhiên, đại biểu Kiên nhấn mạnh, thực tế cho thấy, nhiều nội dung vừa bị gỡ khỏi nền tảng này lại xuất hiện trên nền tảng khác. Các website vi phạm bị chặn lại tiếp tục hoạt động dưới tên miền mới.

Điều 198b quy định trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian và chủ quản nền tảng số. Điều 199 quy định các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. 

"Đây là những quy định quan trọng nhưng cần tiếp tục cụ thể hóa cơ chế phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn vi phạm". 

Đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung vào Điều 198b theo hướng: Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian, chủ quản nền tảng số có trách nhiệm thiết lập cơ chế tiếp nhận, xác minh và xử lý thông báo về hành vi xâm phạm quyền tác giả; kịp thời gỡ bỏ hoặc chặn truy cập nội dung vi phạm; bảo vệ và cung cấp chứng cứ điện tử theo yêu cầu của cơ quan chức năng.

Phải phòng ngừa, xử lý hiệu quả hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ- Ảnh 2.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận tại hội trường sáng 3/11. Ảnh: Media Quốc hội.

Về quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm có sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI), với sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo và sắp tới là siêu trí tuệ, đại biểu Kiên đề nghị cần làm rõ hơn các nguyên tắc cơ bản ngay trong Luật để bảo đảm tính minh bạch, thống nhất và ổn định.

Ngoài ra, nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện khoản 5 Điều 6 theo hướng: Xác định rõ nguyên tắc nền tảng trí tuệ nhân tạo không phải là chủ thể của quyền sở hữu trí tuệ. Sản phẩm do người sử dụng trí tuệ nhân tạo tạo ra được bảo hộ theo phạm vi, mức độ đóng góp sáng tạo của cá nhân đó.

Đồng thời, yêu cầu chủ thể nền tảng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm tuân thủ pháp luật sở hữu trí tuệ. Đối với các tác phẩm, nội dung mà trí tuệ nhân tạo sử dụng dữ liệu nguồn từ tài liệu đã thu thập thì phải dẫn nguồn.

Đối với khai thác giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định về thúc đẩy thương mại hóa tài sản trí tuệ trong nhóm quy định về định đổi quyền theo hướng: Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân xác định giá trị, góp vốn, chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng và khai thác thương mại hợp pháp tài sản trí tuệ; thúc đẩy phát triển thị trường giao dịch quyền sở hữu trí tuệ; thúc đẩy phát triển cơ sở dữ liệu phục vụ định giá và các dịch vụ hỗ trợ thương mại hóa tài sản trí tuệ.

Đồng thời, có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học đưa kết quả nghiên cứu, sáng chế vào sản xuất kinh doanh, bảo đảm phân chia lợi ích hợp lý giữa nhà đầu tư, đơn vị chủ trì và người trực tiếp sáng tác.

"Việc sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ lần này cần hướng đến phòng ngừa, xử lý hiệu quả hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; bảo đảm hành lang pháp lý phù hợp với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo và giải phóng tối đa giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ", đại biểu Kiên lưu ý.

Phải phòng ngừa, xử lý hiệu quả hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ- Ảnh 3.

Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Đoàn Hải Phòng) phát biểu. Ảnh: Quang Vinh.

Còn theo đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Đoàn Hải Phòng), trong nền kinh tế dựa ngày càng nhiều vào tri thức, công nghệ, dữ liệu và tài sản vô hình, thể chế sở hữu trí tuệ không chỉ là vấn đề bảo hộ quyền, mà phải được nhìn nhận như một cấu phần của thể chế phát triển, một hạ tầng pháp lý của thị trường tài sản trí tuệ và của nền kinh tế số.

Việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp tại Điều 97, Điều 138 và quy định chuyển tiếp tại Điều 3, đại biểu ủng hộ việc bỏ thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển nhượng riêng biệt, thay bằng thủ tục ghi nhận thay đổi chủ sở hữu trên văn bằng bảo hộ. Tuy nhiên, dự thảo đang xác lập hai thời điểm pháp lý: hợp đồng có hiệu lực giữa các bên theo pháp luật dân sự, còn quyền của chủ sở hữu chỉ chuyển sang bên nhận kể từ thời điểm cơ quan quản lý ghi nhận.

Vì vậy, đại biểu Sơn đề nghị cần làm rõ hệ quả pháp lý trong thời gian chờ ghi nhận. Nếu phát sinh xâm phạm quyền, giao dịch tiếp theo với người thứ ba, hoặc bên chuyển nhượng mất khả năng thanh toán thì quyền của bên nhận được bảo vệ đến đâu? Giải trình của Chính phủ chủ yếu dẫn chiếu pháp luật dân sự và cơ chế ủy quyền, trong khi chính giải trình cũng xác định quyền vẫn thuộc bên chuyển nhượng cho đến khi được ghi nhận; nghĩa là nếu bên chuyển nhượng phá sản trong thời gian này, rủi ro dồn về phía bên đã trả tiền.

"Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà trực tiếp liên quan đến an toàn của giao dịch tài sản trí tuệ, góp vốn, thế chấp, chuyển giao công nghệ và mua bán doanh nghiệp", đại biểu Sơn nói.

Chính vì vậy, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cho rằng cần chỉnh lý Điều 97 và Điều 138 theo hướng: hồ sơ yêu cầu ghi nhận chuyển nhượng phải được cập nhật kịp thời vào cơ sở dữ liệu để bên thứ ba có thể tra cứu; xác định rõ nguyên tắc ưu tiên theo thứ tự nộp hồ sơ hợp lệ và hiệu lực đối với người thứ ba; đồng thời có thời hạn xử lý đủ rõ để doanh nghiệp dự liệu được thời điểm hoàn tất chuyển quyền.

Đồng thời, rà soát tính thống nhất với quy định chuyển tiếp về quyền đối với giống cây trồng tại Điều 3. Nếu các cơ chế có bản chất tương đồng nhưng sử dụng các mốc hiệu lực khác nhau thì cần giải trình rõ căn cứ; trường hợp không có khác biệt về bản chất pháp lý thì nên thống nhất nguyên tắc.