Sửa Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá: Đo hiệu quả bằng sức khỏe cộng đồng
Sau hơn một thập kỷ thi hành, Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá (PCTHTL) đang được sửa đổi trong bối cảnh thị trường xuất hiện nhiều sản phẩm mới, phương thức kinh doanh mới và những thách thức mới trong công tác quản lý.
Tại tọa đàm góp ý sửa đổi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá (PCTHTL) tổ chức tại Hà Nội ngày 26/8 vừa qua, Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Nguyễn Quỳnh Liên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội; nguyên Trưởng Ban Dân chủ, Giám sát và Phản biện xã hội, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam nhấn mạnh: Đích đến của quá trình sửa đổi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá không phải là gia tăng số lượng điều cấm, mà là tạo ra những chuyển biến thực chất đối với sức khỏe cộng đồng. Muốn vậy, chính sách cần được xây dựng trên cơ sở dữ liệu, đánh giá tác động và khả năng thực thi, đồng thời kết hợp nhiều công cụ quản lý nhằm ngăn ngừa người sử dụng mới, hỗ trợ cai thuốc và kiểm soát hiệu quả thị trường bất hợp pháp.
Đặt lệnh cấm đúng vị trí trong chiến lược giảm tác hại
Sau hơn một thập kỷ thi hành, Luật PCTHTL đang được sửa đổi trong bối cảnh thị trường xuất hiện nhiều sản phẩm mới, phương thức kinh doanh mới và những thách thức mới trong công tác quản lý. Theo bài Liên, điều này đòi hỏi hệ thống pháp luật phải được cập nhật để đáp ứng thực tiễn. Tuy nhiên, trước khi bàn đến việc mở rộng hay bổ sung các quy định cấm, cần xác định rõ mục tiêu cuối cùng của chính sách là gì.

Bà Nguyễn Quỳnh Liên - Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội; nguyên Trưởng Ban Dân chủ, Giám sát và Phản biện xã hội, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam. Ảnh: Báo Tiền Phong
Bà Liên nhấn mạnh, ngay từ tên gọi, Luật PCTHTL đã cho thấy trọng tâm của luật là giảm thiểu tác hại của sản phẩm đối với sức khỏe cộng đồng, chứ không phải là để cấm sản phẩm. Vì vậy, hiệu quả của chính sách cần được đánh giá dựa trên khả năng giảm số người bắt đầu sử dụng thuốc lá, hỗ trợ người đang hút tiến tới cai thuốc, bảo vệ người không hút khỏi phơi nhiễm thụ động và hạn chế các rủi ro phát sinh trong xã hội. Mỗi mục tiêu đó cần những công cụ khác nhau, từ giáo dục phòng ngừa, kiểm soát độ tuổi người mua, mở rộng môi trường không khói thuốc đến hỗ trợ cai nghiện và quản lý thị trường.
Trong bức tranh tổng thể ấy, lệnh cấm dù là một trong những công cụ dùng để kiểm soát sử dụng thuốc lá nhưng không phải là giải pháp duy nhất. Thực tiễn cho thấy nhu cầu tiêu dùng không tự động biến mất chỉ vì quy định cấm được ban hành. Nếu thiếu nguồn lực thực thi, cơ chế giám sát và sự phối hợp liên ngành, hoạt động mua bán có thể dịch chuyển sang thị trường ngầm, khiến cơ quan quản lý gặp nhiều khó khăn hơn trong việc kiểm soát chất lượng sản phẩm, nguồn gốc xuất xứ cũng như độ tuổi người sử dụng. Vì vậy, một chính sách quyết liệt không nên được đo bằng mức độ nghiêm khắc của quy định mà phải được phản ánh qua kết quả giảm tác hại đạt được trên thực tế.
Đánh giá tác động và năng lực thực thi phải là trọng tâm của chính sách
Bà Liên đánh giá, một yêu cầu quan trọng trong quá trình sửa đổi luật là mọi phương án quản lý cần được xem xét trên cơ sở đánh giá tác động toàn diện. Việc phân loại sản phẩm, lựa chọn cho phép lưu hành có điều kiện hay áp dụng biện pháp cấm cần dựa trên các tiêu chí khoa học, minh bạch và có khả năng thực thi. Chính sách hiệu quả không phải là áp dụng cùng một công cụ cho mọi loại sản phẩm, mà là lựa chọn biện pháp phù hợp với đặc điểm, mức độ rủi ro và tác động thực tế của từng nhóm đối tượng quản lý.
Bên cạnh đó, vấn đề buôn lậu và thị trường bất hợp pháp cần được nhìn nhận như một phần không thể tách rời của mục tiêu bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Khoảng cách giữa quy định pháp luật và thực thi hiện nay vẫn còn hiện hữu khi thuốc lá nhập lậu tiếp tục lưu thông, trong khi các giao dịch trên môi trường số ngày càng khó kiểm soát. Nếu nhu cầu vẫn tồn tại nhưng nguồn cung hợp pháp bị thu hẹp mà không đi kèm các biện pháp thực thi đủ mạnh, nguy cơ dịch chuyển sang các kênh bất hợp pháp là điều cần được tính đến trong quá trình hoạch định chính sách.
Do vậy, bà Liên mong muốn mọi lựa chọn chính sách, từ cấm, hạn chế đến cho phép lưu hành có điều kiện, đều cần được đặt dưới cùng một phép thử: giải pháp đó có giúp giảm bệnh tật, giảm phơi nhiễm, giảm người sử dụng mới và hỗ trợ người đang hút tiến tới cai thuốc hay không; đồng thời có khả thi trong điều kiện của Việt Nam hay không.
Theo bà Liên, để trả lời cho vấn đề này, Bộ Y tế cần phối hợp với Bộ Công Thương cùng các cơ quan về khoa học, đầu tư và thực thi. Chính sách phải dựa trên dữ liệu thực chứng, đánh giá tác động đa chiều và cơ chế theo dõi sau khi Luật có hiệu lực; đồng thời có khả năng điều chỉnh khi kết quả không đạt kỳ vọng.
Về vấn đề lâu dài, theo bà Liên cần nhất là sự tham gia của xã hội. Việc sửa đổi Luật PCTHTL lần này vì vậy là cơ hội để xây dựng một cách tiếp cận toàn diện hơn, kết hợp giữa phòng ngừa, giáo dục, hỗ trợ cai thuốc, kiểm soát thị trường và chống buôn lậu. Điều người dân kỳ vọng không phải là một đạo luật có thêm bao nhiêu điều cấm, mà là một khung chính sách thực sự giúp giảm bệnh tật, hạn chế người sử dụng mới và bảo vệ sức khỏe cộng đồng một cách bền vững. Giá trị của một đạo luật, sau cùng, nằm ở những kết quả tích cực mà nó tạo ra trong đời sống chứ không chỉ ở mức độ nghiêm khắc của các quy định trên văn bản.
Không chỉ ĐBQH Nguyễn Quỳnh Liên, mà các đại biểu tham gia tại tọa đàm đều nhìn nhận, trước một vấn đề phức tạp như kiểm soát thuốc lá, sẽ không có giải pháp đơn lẻ nào có thể giải quyết toàn bộ thách thức đặt ra. Điều cần thiết là một khuôn khổ pháp lý đủ chặt chẽ để bảo vệ sức khỏe cộng đồng, nhưng cũng đủ khả thi để được thực hiện hiệu quả trong thực tiễn. Đây không chỉ là việc bổ sung hay điều chỉnh các quy định hiện hành, mà còn là cơ hội để nâng cao chất lượng xây dựng chính sách công, bảo đảm mỗi quyết định lập pháp đều hướng tới những kết quả thực chất và bền vững cho người dân.