Môi trường

Sửa luật, tạo động lực phát triển kinh tế biển

-

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kinh tế biển hiện đóng góp khoảng 50% GRDP cả nước; nhiều địa phương ven biển nằm trong nhóm dẫn đầu về thu nhập bình quân đầu người.

Chồng lấn không gian sử dụng biển

Hiện cấu trúc kinh tế biển đang thay đổi nhanh chóng. Nếu trước đây biển chủ yếu gắn với khai thác dầu khí và đánh bắt hải sản thì nay các ngành kinh tế biển mới nổi đang mở ra dư địa phát triển rất lớn.

Sửa luật, tạo động lực phát triển kinh tế biển- Ảnh 1.

Kinh tế biển, chuyển từ tư duy quản lý tài nguyên sang quản trị không gian biển.

Theo báo cáo sơ kết thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW, ngành dầu khí tiếp tục đóng góp hơn 8% tổng thu ngân sách nhà nước; tổng lượng dầu khí phát hiện trên toàn thềm lục địa khoảng 4,4 tỷ m³ dầu quy đổi.

Lĩnh vực hàng hải-logistics phát triển nhanh với 320 bến cảng, tổng chiều dài cầu cảng 102km; lượng hàng hóa thông qua cảng biển năm 2025 đạt 1,17 tỷ tấn. Đội tàu biển Việt Nam đứng thứ 10 thế giới về vận tải hàng hóa, với 1.434 tàu với tổng trọng tải khoảng 9,4 triệu DWT.

Nuôi biển cũng tăng trưởng mạnh với thể tích lồng nuôi đạt 9,7 triệu m³, sản lượng đạt 832 nghìn tấn, tăng gần 39% so với năm 2020; kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2025 đạt khoảng 11.3 tỷ USD.

Đặc biệt, năng lượng tái tạo ngoài khơi đang được xem là "mỏ vàng xanh" của tương lai. Việt Nam có nhiều vùng biển có điều kiện thuận lợi để phát triển điện gió ngoài khơi, điện sóng và các ngành công nghiệp biển mới.

Không gian biển cũng mở ra cơ hội lớn cho logistics biển, đô thị ven biển, trung tâm thương mại tự do và các công trình kinh tế trên biển. Đây sẽ là động lực tăng trưởng mới khi dư địa phát triển trên đất liền ngày càng thu hẹp.

Bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế biển cũng đang bộc lộ nhiều hạn chế về mặt pháp lý. Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, theo quy định của các luật về quy hoạch, việc phân vùng sử dụng không có quy định phân vùng cụ thể cho từng ngành khai thác, sử dụng như khai thác khoáng sản, điện gió, dầu khí, du lịch, nuôi trồng thủy sản, hàng hải… mà các ngành chủ yếu dựa trên các vùng trên để tiếp tục xác định rõ các khu vực cụ thể để thực hiện việc khai thác, sử dụng tài nguyên biển. Điều này gây khó khăn cho tổ chức, cá nhân không đủ năng lực để thực hiện đầy đủ các hoạt động điều tra, khảo sát, đo đạc để làm cơ sở đề xuất việc hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển cụ thể.

Trong nhiều năm, tư duy phát triển biển của Việt Nam chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên theo ngành riêng lẻ như dầu khí, thủy sản, cảng biển hay du lịch. Điều này dẫn tới tình trạng chồng lấn không gian sử dụng biển, xung đột lợi ích giữa các ngành và suy giảm hệ sinh thái ven biển.

Thay đổi mô hình phát triển kinh tế biển 

Thực tế cho thấy mâu thuẫn, chồng lấn không gian sử dụng biển giữa các ngành như hàng hải, dầu khí, năng lượng tái tạo, bảo tồn, du lịch, nuôi biển và quốc phòng, an ninh ngày càng gia tăng.

Mô hình phát triển kinh tế biển của Việt Nam hiện vẫn chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên truyền thống; chuyển đổi sang kinh tế biển xanh còn chậm và thiếu cơ chế đủ mạnh để thu hút đầu tư vào các lĩnh vực mới như điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp hay kinh tế tuần hoàn biển.

Theo báo cáo tổng kết thi hành Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, nhiều "điểm nghẽn" hiện nay nằm ở khoảng trống thể chế. Đó là việc chưa xác lập đầy đủ cơ chế thúc đẩy kinh tế biển xanh; thiếu chính sách ưu đãi cho các ngành kinh tế biển mới; thiếu công cụ điều phối liên ngành, liên vùng để phân bổ hiệu quả nguồn lực phát triển biển.

Trong bối cảnh đó, việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2025 được xem là bước đi quan trọng nhằm chuyển từ tư duy quản lý tài nguyên sang quản trị không gian biển. Đây không chỉ là thay đổi về kỹ thuật lập pháp mà còn là thay đổi căn bản về mô hình phát triển.

Theo định hướng sửa đổi luật, việc giao, cho thuê và sử dụng khu vực biển sẽ được gắn chặt với quy hoạch không gian biển; đồng thời thiết lập cơ chế xử lý xung đột, chồng lấn trong sử dụng không gian biển và thúc đẩy sử dụng biển đa mục đích.

Ông Nguyễn Thanh Tùng, Phó cục trưởng Cục Biển và Hải đảo cho biết, việc xây dựng dự án luật lần này được đặt ra trong bối cảnh thế giới đang có những thay đổi mang tính thời đại, đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình để phát triển bứt phá, giàu mạnh, hùng cường dưới sự lãnh đạo của Đảng; thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân; đẩy mạnh khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên, không gian biển và phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn mới.

Theo ông Tùng, trên cơ sở các quan điểm, chủ trương, định hướng mới của Đảng về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển trong giai đoạn tới, cơ quan chủ trì soạn thảo luật nghiên cứu, tiếp thu và thể chế hóa các nội dung, quy định mới trong luật (sửa đổi) lần này. Trong đó, tập trung nghiên cứu cơ chế nhằm tạo động lực thực sự hiệu quả thúc đẩy phát triển kinh tế biển, hình thành các tập đoàn, doanh nghiệp lớn vươn ra biển, phát triển kinh tế biển đa tầng gắn với bảo vệ mội trường, phát triển sinh kế và bảo tồn.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa công bố 7 thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và 12 thủ tục bị bãi bỏ trong lĩnh vực biển và hải đảo.

Trong 7 thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung có 3 thủ tục cấp Trung ương gồm: Quyết định giao khu vực biển; Giấy phép nhận chìm ở biển; Quyết định cấp phép nghiên cứu khoa học trong vùng biển quản lý hành chính trên biển.

3 thủ tục cấp tỉnh gồm: Quyết định giao khu vực biển; Giấy phép nhận chìm ở biển; Quyết định cấp phép nghiên cứu khoa học trong vùng biển quản lý hành chính trên biển.

1 thủ tục cấp xã được sửa đổi bổ sung là quyết định giao khu vực biển cho cá nhân Việt Nam để nuôi trồng thủy sản.

Cùng với đó, Bộ bãi bỏ 12 thủ tục hành chính liên quan đến gia hạn quyết định giao khu vực biển, gia hạn giấy phép nhận chìm ở biển, gia hạn giấy phép nghiên cứu khoa học, công nhận khu vực biển và khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

Các thủ tục hành chính được công bố tại quyết định này được xây dựng trên cơ sở thực hiện các nghị quyết của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.