Chính trị

“Tấm bản đồ của má” và bài học “thế trận lòng dân”

-

Đã hơn nửa thế kỷ từ Đại thắng mùa Xuân thống nhất đất nước năm 1975, nhưng ký ức về những ngày tháng "thần tốc" vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Theo ông, bước vào kỷ nguyên mới, tinh thần "thần tốc, táo bạo, quyết đoán" năm xưa cần được chuyển hóa thành động lực phát triển, hiện thực hóa khát vọng hùng cường.

“Tấm bản đồ của má” và bài học “thế trận lòng dân”- Ảnh 1.

Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Tấm bản đồ của bà má miền Nam

Từng tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trong 4 chiến dịch lớn, trong đó có Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ông có thể chia sẻ một trong những kỷ niệm đáng nhớ nhất?

Có lẽ đó là cuộc hành quân thần tốc từ Tam Điệp vào chiến trường miền Nam và cuộc gặp đặc biệt trong đêm 29/4.

Việc bảo vệ Tổ quốc hiện nay không chỉ giới hạn ở biên giới đất liền, vùng trời, vùng biển truyền thống mà còn mở rộng ra không gian mạng và môi trường đa chiều.

Vì thế, cần chú trọng phát triển các lực lượng tác chiến không gian mạng, hải quân, không quân theo hướng chính quy, tinh nhuệ. Đồng thời, phải biết khai thác những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số mạnh mẽ trong lĩnh vực quân sự.

Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu

Ngày 18/3/1975, khi đó tôi là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 27, Sư đoàn 320B, Quân đoàn 1, nhận lệnh hành quân cơ giới từ Tam Điệp vào Đông Hà, Quảng Trị. Tốc độ chiến trường thay đổi nhanh đến mức khi đơn vị vào tới Huế ngày 26/3, rồi ra bán đảo Sơn Trà ngày 29/3, các địa bàn này đã được giải phóng.

Ngay sau đó, chúng tôi lại tiếp tục cơ động dọc Trường Sơn vào Đồng Xoài, chuẩn bị chiến dịch mang tên Bác. Tất cả diễn ra "thần tốc". Hành quân suốt ngày đêm, anh em chỉ ăn lương khô, gạo rang và thịt hộp, chỗ nào có suối thì dừng lại nấu cơm.

Đêm 29/4, khi tiếp cận khu vực Búng, cách Lái Thiêu khoảng 10km, một tình huống bất ngờ trở thành bước ngoặt cho mũi tiến công của Trung đoàn 27.

Giữa đêm tối, ánh đèn dầu từ một ngôi nhà mái lá đã dẫn lối cho đội trinh sát. Với ký hiệu nhận diện "Hồ Chí Minh" ba lần, đáp lại bằng "Muôn năm" đúng mật khẩu mặt trận, tôi và Chính ủy Trịnh Văn Thư được gặp một bà má miền Nam, má Huỳnh Thị Sáu (tên thường gọi là Sáu Ngẫu) cùng hai người con tên là Phước và Đức.

Theo kế hoạch, tôi đưa bản đồ quân sự ra thưa: "Con là chỉ huy quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Ngày mai, đơn vị chúng con có nhiệm vụ đánh chiếm Lái Thiêu, chiếm cầu Vĩnh Bình và tiến công vào Bộ Tư lệnh thiết giáp quân ngụy. Nếu má có thông tin gì, xin má giúp".

Má bảo không rành bản đồ đó. Rồi má vào buồng lấy ra một tấm bản đồ đô thành Sài Gòn viết tay bằng nét chữ rất đẹp, ghi chi tiết các điểm phòng thủ của địch. Sau này mới biết má là giáo viên tiếng Pháp ở Sài Gòn.

Má chỉ dẫn tỉ mỉ: Cách 5km là trại Huỳnh Văn Lương với gần 2.000 binh sĩ địch, sáng mai không cần đánh mà hãy kêu hàng; phải nhanh chóng chiếm cầu Vĩnh Bình vì đó là con đường duy nhất để xe tăng vào nội đô.

Không có nhân dân, không thể có chiến thắng

Những thông tin đó đã tác động như thế nào đến diễn biến trận đánh, thưa ông?

Lời căn dặn của người mẹ hiền hậu nhưng mang tầm vóc của một nhà tham mưu chiến lược đã giúp đơn vị xây dựng phương án tác chiến chính xác trong đêm.

“Tấm bản đồ của má” và bài học “thế trận lòng dân”- Ảnh 2.

Má Sáu Ngẫu (đeo kính) chỉ đường trên tấm bản đồ cho quân ta (Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu là người thứ hai từ phải sang).

Đúng 4 giờ 30 phút ngày 30/4, đội hình bắt đầu tiến công. Tại ngã ba Lái Thiêu, ta bắn cháy ba xe tăng, bắt sống pháo 175 "Vua chiến trường". Đến 9 giờ, nổ ra trận chiến ác liệt tại cầu Vĩnh Bình, cây cầu có dây thép gai chằng chịt, thùng phuy đựng cát chắn đường đúng như má ghi chép.

Quân ta vấp phải kháng cự quyết liệt của địch, Trung đoàn 27 phải dùng toàn bộ hỏa lực để chế áp, mở đường cho lực lượng cơ giới chiếm cầu.

Gần 10 giờ, Trung đoàn 27 đã làm chủ Bộ Tư lệnh thiết giáp quân ngụy, tiếp quản Tổng y viện Cộng hòa và bắt liên lạc với các đơn vị bạn để làm chủ hoàn toàn nội đô.

Câu chuyện "tấm bản đồ của má" mà ông kể phải chăng là biểu hiện sinh động của "thế trận lòng dân", góp phần làm nên Đại thắng mùa Xuân?

Đúng vậy. Nhân dân không chỉ là hậu phương mà còn trực tiếp tham gia vào cuộc chiến bằng nhiều cách khác nhau. Từ cung cấp thông tin, dẫn đường, đến che chở bộ đội… Nếu không có nhân dân, không thể có chiến thắng.

Khi lòng dân đã hướng về cách mạng, thì trí tuệ của nhân dân trở thành một nguồn lực vô cùng to lớn.

Có niềm tin là có tất cả sức mạnh

Theo ông, tinh thần của Đại thắng mùa Xuân 1975 cần được phát huy như thế nào trong giai đoạn hiện nay?

Tinh thần "thần tốc, táo bạo, quyết đoán" cần được chuyển hóa thành động lực phát triển.

“Tấm bản đồ của má” và bài học “thế trận lòng dân”- Ảnh 3.

Tấm bản đồ huyền thoại của má Sáu đã góp phần làm nên chiến thắng lịch sử 30/4/1975.

Ngày nay, "thần tốc" là tốc độ đổi mới; "táo bạo" là dám nghĩ, dám làm; còn "quyết đoán" là tổ chức thực hiện hiệu quả.

Nhưng trên hết, vẫn là kết hợp giữa ý Đảng và lòng dân. Bài học từ "tấm bản đồ của má" năm 1975 vẫn còn nguyên giá trị: Khi lòng dân đã đồng thuận, khi ý chí chính trị và sức mạnh nhân dân hòa làm một, thì không gì có thể ngăn cản bước tiến của dân tộc.

Khái niệm "Thế trận lòng dân" được nhấn mạnh trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng và trong bối cảnh hiện nay, nội hàm của khái niệm này được kế thừa và phát triển như thế nào cho phù hợp với thời đại, thưa ông?

Dù thời chiến hay thời bình, sức mạnh quốc phòng của Việt Nam luôn dựa trên nòng cốt là ba thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ.

Chính nghệ thuật chiến tranh nhân dân với nòng cốt là ba thứ quân đã giúp ta đánh bại các đế quốc lớn, bảo vệ vững chắc độc lập, tự do của Tổ quốc và nền tảng vững chắc nhất là "thế trận lòng dân". Trong bối cảnh hiện nay, nội hàm của khái niệm này đã có những bước phát triển mang tính thời đại.

"Thế trận lòng dân" hiện nay cốt lõi chính là xây dựng niềm tin. Có niềm tin là có tất cả sức mạnh.

Trong không gian mở của kỷ nguyên số, việc làm chủ khoa học, công nghệ và thông tin là yếu tố tiên quyết để củng cố niềm tin của nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Quân đội không chỉ thực hiện chức năng đội quân chiến đấu mà còn phải là đội quân công tác và lao động sản xuất, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng.

Dựa trên tinh thần Văn kiện Đại hội XIV, có thể thấy rõ mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và quốc phòng: Kinh tế mạnh là tiền đề để quốc phòng vững, ngược lại, quốc phòng vững chắc tạo môi trường ổn định cho kinh tế phát triển.

Cảm ơn ông!

Thượng tướng, Viện sĩ, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Huy Hiệu sinh năm 1947, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 1.

Ông từng tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trong 4 chiến dịch lớn là: Mậu Thân 1968; Đường 9 - Nam Lào 1971; Quảng Trị 1972 và Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975. Đời binh nghiệp, ông đã trải qua 67 trận đánh ác liệt, bị thương ở chiến trường, được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân khi vừa tròn 26 tuổi.