TP.HCM ban hành quy định mới về quản lý khai thác khoáng sản phục vụ các công trình, dự án
UBND TP.HCM vừa ban hành quy định mới về quản lý khoáng sản nhóm II làm phụ gia xi măng, nhóm III làm vật liệu xây dựng thông thường và nhóm IV trên địa bàn.
Quy định hướng đến đơn giản hóa thủ tục khai thác, tạo điều kiện sử dụng hiệu quả nguồn vật liệu phục vụ các công trình, dự án, đồng thời tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Quy định mới của UBND TP.HCM đơn giản các thủ tục trong việc quản lý hoạt động khoáng sản theo nguyên tắc đơn giản hóa hồ sơ, thủ tục hành chính, tăng trách nhiệm của tổ chức, cá nhân gắn với cơ chế hậu kiểm.
Theo Quyết định số 84/2026/QĐ-UBND ngày 20/10/2026, UBND TP.HCM ban hành quy định về quản lý khoáng sản nhóm II làm phụ gia xi măng, nhóm III làm vật liệu xây dựng thông thường và nhóm IV trên địa bàn thành phố. Quyết định có hiệu lực từ ngày 30/10/2026, quy định các nội dung liên quan đến thăm dò, khai thác, sử dụng, chế biến khoáng sản; cấp, gia hạn, điều chỉnh, chuyển nhượng giấy phép khai thác; nghĩa vụ tài chính và đóng cửa mỏ.
Theo đó, thành phố thực hiện quản lý hoạt động khoáng sản theo nguyên tắc đơn giản hóa hồ sơ, thủ tục hành chính, tăng trách nhiệm của tổ chức, cá nhân gắn với cơ chế hậu kiểm, đồng thời tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước. Việc khai thác, sử dụng khoáng sản phải bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả và tuân thủ các yêu cầu về an toàn, bảo vệ môi trường.
Đáng chú ý, việc cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm III làm vật liệu xây dựng thông thường phục vụ các công trình, dự án thuộc diện quy định không phải thực hiện một số thủ tục về chủ trương đầu tư theo pháp luật về đầu tư, đầu tư công và đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Các thủ tục về thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, cấp giấy phép môi trường và đăng ký môi trường cũng được miễn theo phạm vi quy định.
Đối với hoạt động khai thác khoáng sản nhóm IV, nếu phát hiện khoáng sản nhóm III trong quá trình khai thác, tổ chức, cá nhân được khảo sát, đánh giá bổ sung trên cơ sở kế thừa tài liệu, số liệu hiện có mà không phải thực hiện thủ tục cấp giấy phép thăm dò khoáng sản. Kết quả xác nhận trữ lượng là cơ sở để xem xét cấp giấy phép khai thác theo quy định. Trường hợp tổ chức, cá nhân đang khai thác khoáng sản nhóm IV muốn bổ sung khối lượng khoáng sản nhóm III, có thể lập hồ sơ điều chỉnh giấy phép.
Quy định cũng tạo thuận lợi trong việc gia hạn giấy phép khai thác khoáng sản nhóm III làm vật liệu xây dựng thông thường phục vụ các công trình, dự án thuộc diện áp dụng khi không phải thông qua Hội đồng tư vấn kỹ thuật. Một số trường hợp điều chỉnh giấy phép để tiếp tục cung cấp khoáng sản cho công trình, dự án được đơn giản hóa thủ tục. Tuy nhiên, cơ chế này không áp dụng đối với trường hợp thay đổi ranh giới, diện tích, độ sâu hoặc phát sinh thêm trữ lượng so với hồ sơ dự án đầu tư khai thác khoáng sản đã được cấp phép.
Đối với sản phẩm khoáng sản dôi dư sau khai thác, chế biến mà công trình, dự án ghi trong giấy phép không có hoặc không còn nhu cầu sử dụng, cơ quan chuyên môn về địa chất và khoáng sản có trách nhiệm thông báo công khai trên Cổng thông tin điện tử của UBND thành phố để chủ đầu tư, nhà thầu thi công đăng ký nhu cầu. Thông báo được đăng 2 lần, lần sau cách lần đầu tối thiểu 5 ngày. Sau 10 ngày kể từ ngày đăng thông báo lần thứ hai, nếu không có chủ đầu tư, nhà thầu đăng ký, tổ chức, cá nhân được cấp phép có thể cung cấp sản phẩm khoáng sản dôi dư cho các công trình, dự án khác, không phân biệt nguồn vốn đầu tư.
Thành phố cũng cho phép chuyển nhượng quyền khai thác khoáng sản nhóm IV phục vụ các công trình, dự án. Tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng được kế thừa hồ sơ pháp lý mỏ của bên chuyển nhượng để tiếp tục khai thác và thực hiện các quyền, nghĩa vụ liên quan mà không bắt buộc phải điều chỉnh tên trên hồ sơ pháp lý nếu chưa có nhu cầu. Đồng thời, các tổ chức, cá nhân được khuyến khích đầu tư công nghệ, thiết bị hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả khai thác, chế biến, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Về nghĩa vụ tài chính, tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản nhóm III và nhóm IV thuộc trường hợp quy định vẫn phải thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai, trong đó có tiền thuê đất. Diện tích tính tiền thuê đất bao gồm khu vực khai thác và các khu vực phụ trợ như khu chế biến, bãi chứa, văn phòng điều hành cùng các công trình phụ trợ khác. Thời điểm tính tiền thuê đất được xác định từ khi cơ quan có thẩm quyền bàn giao mốc giới khu vực khai thác tại thực địa, có lập biên bản sau khi cấp giấy phép.
Đối với khu vực đã đóng cửa mỏ, UBND thành phố quyết định việc sử dụng để tiếp nhận vật liệu dư thừa phát sinh từ hoạt động xây dựng. Việc san lấp phải đánh giá đặc điểm địa chất, thủy văn, nguy cơ ảnh hưởng đến nước dưới đất, bảo đảm an toàn địa chất vách mỏ và thực hiện quan trắc nước dưới đất định kỳ.
Trong công tác bảo vệ tài nguyên khoáng sản chưa khai thác, cơ quan chuyên môn về địa chất và khoáng sản có trách nhiệm tăng cường kiểm tra, phát hiện và xử lý hoặc kiến nghị xử lý vi phạm về khoáng sản, đất đai, môi trường. UBND các xã, phường, đặc khu phải kịp thời ngăn chặn hoạt động khai thác khoáng sản trái phép, xử lý vi phạm theo thẩm quyền và báo cáo thành phố đối với các trường hợp vượt thẩm quyền. Cơ quan chuyên môn về địa chất và khoáng sản thuộc UBND thành phố được giao làm đầu mối hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và thực hiện cơ chế hậu kiểm trong quá trình triển khai quy định mới.