Trả phí cho đội quần chúng bảo vệ rừng
Chính phủ vừa sửa đổi, bổ sung quy định về chi cho công tác bảo vệ rừng, đáng quan tâm là bổ sung nội dung chi cho lực lượng quần chúng bảo vệ rừng.
Mở rộng đối tượng chi bảo vệ rừng
Chính phủ ban hành Nghị định số 42/2026/NĐ-CP ngày 26/1/2026 (nghị định) sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định trong lĩnh vực lâm nghiệp và kiểm lâm.
Theo đó, nghị định mở rộng phạm vi các nội dung chi cho công tác bảo vệ rừng đặc dụng như: chi về hạ tầng bảo vệ rừng, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, đa dạng sinh học, phòng trừ sinh vật gây hại và bảo vệ, phát triển động vật, thực vật rừng. Đồng thời, bổ sung nội dung chi cho lực lượng quần chúng bảo vệ rừng và công tác quản lý, giám sát ở cơ sở, góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ rừng.

Nhà nước trả phí cho người dân bảo vệ rừng (Ảnh minh họa).
Cụ thể: Chi phí tiền công cho lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng, thuộc đối tượng không được hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp; thuê lao động bảo vệ rừng; mua sắm, sửa chữa phương tiện, trang thiết bị phục vụ bảo vệ rừng và các công cụ hỗ trợ, bảo hộ lao động cho lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng.
Chi cho công tác bảo trì, bảo dưỡng, cải tạo công trình phòng cháy và chữa cháy rừng, trạm bảo vệ rừng, biển báo, biển cảnh báo, cọc mốc ranh giới rừng và công trình cứu hộ, bảo vệ, phát triển động vật rừng, thực vật rừng; theo dõi, thống kê, điều tra, giám sát diễn biến tài nguyên rừng và đa dạng sinh học; phòng, trừ sinh vật gây hại rừng.
Chi hỗ trợ các lực lượng tham gia truy quét, tuần tra, kiểm tra, giám sát công tác bảo vệ rừng; tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng; tổ chức ký quy ước, cam kết bảo vệ rừng, phòng cháy và chữa cháy rừng; hỗ trợ đào tạo nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ rừng; tuyên truyền giáo dục pháp luật trong cộng đồng dân cư.
Chi xây dựng phương án phòng cháy và chữa cháy rừng; diễn tập chữa cháy rừng; giảm vật liệu cháy; trực ngoài giờ phòng cháy và chữa cháy rừng trong các tháng mùa khô và chi các hội nghị phục vụ công tác bảo vệ rừng.
Nghị định cũng quy định hỗ trợ chi phí đi lại, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, họp với cộng đồng dân cư để triển khai hoạt động quy định tại Điều 8 Nghị định này. Thực hiện các hoạt động bảo vệ rừng khác theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp.
Bên cạnh đó là quy định các khoản chi cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được thuê lao động bảo vệ rừng; chi tiền công cho lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng thuộc đối tượng không được hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp; mua sắm, sửa chữa phương tiện, trang thiết bị phục vụ bảo vệ rừng và các công cụ hỗ trợ, bảo hộ lao động cho lực lượng bảo vệ rừng.
Tăng gấp đôi mức hỗ trợ phát triển sinh kế người dân vùng đệm
Nghị định cũng cho phép hỗ trợ các lực lượng tham gia truy quét, tuần tra, kiểm tra, giám sát công tác bảo vệ rừng; tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng; tổ chức ký quy ước, cam kết bảo vệ rừng, phòng cháy và chữa cháy rừng; hỗ trợ đào tạo nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ rừng; tuyên truyền giáo dục pháp luật trong cộng đồng dân cư.
Nghị định tăng chi khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung thuộc quy hoạch rừng đặc dụng, cụ thể: Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên mức kinh phí bình quân 2.500.000 đồng/ha/năm trong thời gian 6 năm. Đối với vùng đất ven biển bằng 1,5 lần mức bình quân.
Chi phí lập hồ sơ thiết kế, dự toán khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung được xác định bằng dự toán được duyệt; kinh phí quản lý, kiểm tra, nghiệm thu bằng 7% tổng kinh phí chi cho khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung hằng năm.
Nghị định cũng quy định đối tượng và mức hỗ trợ kinh phí để phát triển sinh kế, cải thiện đời sống người dân vùng đệm của các khu rừng đặc dụng theo hướng tăng gấp đôi mức hỗ trợ từ 50 triệu đồng/cộng đồng dân cư/năm lên 100 triệu đồng/cộng đồng dân cư/năm.