Trình Quốc hội chủ trương đầu tư Dự án đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội
Đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô dài khoảng 349km, dự kiến đi qua 7 địa phương gồm Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên và Phú Thọ. Dự án gồm tuyến chính cao tốc quy mô 6 làn xe, tốc độ thiết kế 100- 120km/h.
Sáng 6/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội.

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh trình bày Tờ trình. Ảnh: Media Quốc hội.
Theo Tờ trình của Chính phủ, việc đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội nhằm cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại; từng bước hoàn thiện mạng lưới đường bộ cao tốc, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội cho vùng Thủ đô và các địa phương có tuyến đi qua.
Dự án cũng góp phần tăng cường kết nối liên vùng, liên tỉnh, kết nối với các tuyến vành đai, đường cao tốc và hệ thống giao thông quốc gia; từng bước giảm áp lực giao thông cho khu vực trung tâm Hà Nội, nâng cao năng lực vận tải, thúc đẩy phát triển công nghiệp, dịch vụ, logistics, đô thị và khai thác hiệu quả quỹ đất dọc tuyến.
Theo Chính phủ, đường Vành đai 5 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hình thành mạng lưới giao thông khép kín của vùng Thủ đô, tạo điều kiện phát triển không gian kinh tế mới, phân bố lại dân cư, giảm tải cho các tuyến quốc lộ hiện hữu, đồng thời tăng cường năng lực ứng phó khi xảy ra ùn tắc hoặc sự cố trên các trục giao thông chính.
Chính phủ đánh giá, việc đầu tư dự án sẽ tạo dư địa phát triển lâu dài cho các địa phương, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, thúc đẩy liên kết vùng, khai thác hiệu quả các khu công nghiệp, khu đô thị, trung tâm logistics và các đầu mối giao thông quan trọng.
Bên cạnh những lợi ích về phát triển kinh tế - xã hội, dự án còn có ý nghĩa quan trọng đối với bảo đảm quốc phòng, an ninh, tăng cường khả năng cơ động, cứu hộ, cứu nạn và ứng phó với các tình huống khẩn cấp trong khu vực.
Để triển khai dự án, Chính phủ đề xuất Quốc hội xem xét quyết định chủ trương đầu tư theo thẩm quyền đối với dự án quan trọng quốc gia, đồng thời cho phép áp dụng một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm rút ngắn thời gian chuẩn bị đầu tư, bảo đảm tiến độ thực hiện và phát huy hiệu quả đầu tư.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi trình bày Báo cáo thẩm tra. Ảnh: Media Quốc hội.
Trình bày cáo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi cho biết, dự án đáp ứng tiêu chí dự án quan trọng quốc gia theo quy định của Luật Đầu tư công.
Đối với sự cần thiết đầu tư và sự phù hợp quy hoạch, cơ quan thẩm tra đề nghị tiếp tục làm rõ mối quan hệ giữa dự án với các công trình giao thông trọng điểm khác; đánh giá tổng thể hiệu quả của mạng lưới giao thông sau khi tuyến đường được đầu tư; đồng thời xây dựng cơ chế phối hợp giữa các địa phương trong quản lý quy hoạch, khai thác quỹ đất, đầu tư hạ tầng kết nối và tổ chức vận hành toàn tuyến.
Về phạm vi, quy mô, hình thức đầu tư và tổ chức thực hiện, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị làm rõ hơn cơ chế điều phối thống nhất giữa các cơ quan, địa phương; phân định rõ trách nhiệm của từng chủ thể nhằm bảo đảm đồng bộ về tiêu chuẩn kỹ thuật, tiến độ thi công, chất lượng công trình cũng như tiến độ giải ngân vốn đầu tư công.
Về tổng mức đầu tư và nguồn vốn, cơ quan thẩm tra đề nghị Chính phủ cập nhật suất vốn đầu tư, đơn giá, chi phí dự phòng sát thực tế; đồng thời làm rõ cơ cấu nguồn vốn, tiến độ bố trí và khả năng cân đối vốn của ngân sách Trung ương và địa phương, nhất là Hà Nội và Hải Phòng.
Ủy ban Kinh tế và Tài chính cũng đề nghị Chính phủ làm rõ căn cứ cân đối vốn, đánh giá tác động đến kế hoạch đầu tư công trung hạn và nhu cầu vốn của các dự án quan trọng quốc gia khác; đồng thời bổ sung cam kết của 7 địa phương về bố trí vốn cho đường song hành và công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cơ quan thẩm tra đề nghị rà soát đầy đủ số liệu về diện tích đất thu hồi, số hộ dân bị ảnh hưởng và nhu cầu tái định cư; chuẩn bị đầy đủ quỹ đất tái định cư, đồng thời có chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, ổn định sinh kế cho người dân sau khi thu hồi đất, chuẩn bị đầy đủ quỹ đất tái định cư và có chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề, ổn định sinh kế cho người dân bị thu hồi đất.
Đối với nguồn vật liệu xây dựng, đề nghị Chính phủ xây dựng phương án tổng thể về nhu cầu, nguồn cung, vận chuyển và khai thác hợp pháp; đồng thời gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường nhằm tránh tình trạng thiếu vật liệu hoặc phát sinh khai thác trái phép, ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả đầu tư của dự án.
Bên cạnh đó, làm rõ cơ chế khai thác giá trị tăng thêm từ đất, phương pháp xác định nguồn thu, nguyên tắc phân chia nguồn thu giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương, cũng như cơ chế hoàn trả cho dự án. Đồng thời, cần có giải pháp ngăn ngừa tình trạng đầu cơ đất đai khi triển khai tuyến đường.
Theo tờ trình của Chính phủ, đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô dài khoảng 349km, dự kiến đi qua 7 địa phương gồm Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên và Phú Thọ.
Dự án gồm tuyến chính cao tốc quy mô 6 làn xe, tốc độ thiết kế 100-120km/h và đường song hành quy mô tối thiểu 2 làn xe, tốc độ thiết kế 60-80km/h.
Tờ trình của Chính phủ nêu rõ hướng tuyến của dự án được nghiên cứu, lựa chọn bảo đảm phù hợp với quy hoạch, chiều dài ngắn nhất có thể, hạn chế khối lượng giải phóng mặt bằng. Phương án tuyến lựa chọn đã được 7/7 địa phương liên quan có ý kiến thống nhất bằng văn bản.
Theo báo cáo sơ bộ, để thực hiện dự án, phạm vi giải phóng mặt bằng khoảng 4.011ha với chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khoảng 78.143 tỷ đồng.
Về tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 288.268 tỷ đồng, bao gồm phần tuyến chính cao tốc khoảng 215.192 tỷ đồng, thực hiện bằng ngân sách Trung ương và đường song hành khoảng 73.076 tỷ đồng, làm bằng vốn ngân sách địa phương.
Chính phủ dự kiến bố trí cho dự án trong giai đoạn 2026-2030 khoảng 59.700 tỷ đồng.
Việc chuẩn bị đầu tư dự án từ năm 2026, thực hiện năm 2027 và cơ bản hoàn thành công trình năm 2030. Các đoạn còn lại sẽ thực hiện trong giai đoạn 2026-2030, tiếp tục huy động các nguồn vốn để ưu tiên đầu tư sớm, phấn đấu hoàn thành toàn tuyến trước năm 2035.
Về hình thức đầu tư, dự án đã nghiên cứu phương án đầu tư theo phương thức đầu tư đối tác công tư (PPP) và hình thức đầu tư công.
Kết quả tính toán sơ bộ cho thấy, phương án tài chính đối với phương thức đầu tư PPP chưa bảo đảm tính khả thi.
Trên cơ sở phân tích ưu, nhược điểm các hình thức đầu tư, để góp phần giảm chi phí logistics, thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số”, đề xuất trước mắt đầu tư dự án theo hình thức đầu tư công, triển khai thu phí sau khi hoàn thành tương tự dự án cao tốc Bắc - Nam phía Đông; quá trình lập Báo cáo nghiên cứu khả thi tiếp tục nghiên cứu khả năng đầu tư theo phương thức PPP.
Dự án đề xuất áp dụng 10 nhóm cơ chế, chính sách đặc biệt bao gồm 8 chính sách đã được Quốc hội cho phép áp dụng tại một số dự án liên quan; 2 chính sách mới gồm: công tác bồi thường, hỗ trợ đối với doanh nghiệp bị thu hồi đất sản xuất; thẩm quyền quyết định chuyển đổi hình thức đầu tư.