Xã hội

Từ 1/7, viên chức vi phạm bị áp dụng 4 hình thức kỷ luật

-

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 234/2026/NĐ-CP quy định 4 hình thức kỷ luật đối với viên chức, đồng thời bổ sung nhiều nguyên tắc xử lý, quy định rõ các trường hợp đương nhiên buộc thôi việc, tái phạm và những trường hợp chưa xem xét kỷ luật.

Theo nghị định mới, viên chức vi phạm sẽ bị áp dụng một trong bốn hình thức kỷ luật gồm: khiển trách, cảnh cáo, cách chức (đối với viên chức quản lý) và buộc thôi việc. Ngoài việc bị áp dụng hình thức kỷ luật, viên chức còn bị hạn chế thực hiện hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật có liên quan.

Từ 1/7, viên chức vi phạm bị áp dụng 4 hình thức kỷ luật - Ảnh 1.

Việc xem xét xử lý kỷ luật phải căn cứ đầy đủ vào nội dung, động cơ, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm. Ảnh minh họa.

Đáng chú ý, nghị định quy định viên chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị kết án về tội phạm tham nhũng thì đương nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Đối với viên chức quản lý phạm tội, khi bản án có hiệu lực thì đương nhiên thôi giữ chức vụ được bổ nhiệm.

Nghị định cũng quy định cụ thể các hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật, bao gồm vi phạm quy định của Đảng và pháp luật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ theo vị trí việc làm; vi phạm nghĩa vụ của viên chức; thực hiện những việc pháp luật cấm; vi phạm đạo đức nghề nghiệp, văn hóa công sở, văn hóa giao tiếp với Nhân dân; vi phạm nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Để bảo đảm việc xử lý thống nhất, nghị định phân loại mức độ vi phạm thành ba cấp độ gồm: gây hậu quả ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng. Việc xác định mức độ sẽ căn cứ vào tính chất, mức độ tác hại, phạm vi ảnh hưởng và tác động đến uy tín của cơ quan, đơn vị cũng như dư luận xã hội.

Một nguyên tắc quan trọng được nhấn mạnh là mỗi hành vi vi phạm chỉ bị xử lý một lần bằng một hình thức kỷ luật. Trường hợp cùng thời điểm xem xét kỷ luật mà viên chức có từ hai hành vi vi phạm trở lên thì cơ quan có thẩm quyền phải xem xét từng hành vi, sau đó quyết định áp dụng một hình thức kỷ luật chung ở mức cao nhất tương ứng với các hành vi vi phạm, không tách riêng để xử lý nhiều lần.

Đối với viên chức đang trong thời gian thi hành quyết định kỷ luật nhưng tiếp tục vi phạm, nghị định quy định sẽ áp dụng hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức đang thi hành hoặc nặng hơn một mức so với hình thức tương ứng với hành vi vi phạm mới, tùy từng trường hợp cụ thể.

Việc xem xét xử lý kỷ luật phải căn cứ đầy đủ vào nội dung, động cơ, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; thái độ tiếp thu, sửa chữa và kết quả khắc phục hậu quả. Đồng thời, không được dùng xử phạt hành chính thay cho xử lý kỷ luật hành chính; việc xử lý kỷ luật cũng không thay thế trách nhiệm hình sự nếu hành vi vi phạm đến mức bị truy cứu.

Nghị định cũng quy định rõ mối quan hệ giữa kỷ luật Đảng và kỷ luật hành chính. Theo đó, viên chức bị xử lý kỷ luật Đảng thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày công bố quyết định kỷ luật, cơ quan, tổ chức, đơn vị phải xem xét xử lý kỷ luật hành chính tương xứng, trừ các trường hợp chưa xem xét xử lý theo quy định.

Đối với trường hợp quyết định kỷ luật Đảng được thay đổi hoặc bị hủy bỏ thì quyết định kỷ luật hành chính cũng phải được điều chỉnh hoặc hủy bỏ tương ứng. Đặc biệt, nghị định nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm thân thể, tinh thần, danh dự và nhân phẩm của viên chức trong quá trình xem xét xử lý kỷ luật.

Theo quy định mới, viên chức đã bị xử lý kỷ luật mà trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày quyết định có hiệu lực tiếp tục vi phạm chính hành vi đã bị xử lý thì được xác định là tái phạm. Quyết định kỷ luật có hiệu lực trong thời hạn 12 tháng. Nếu hết thời hạn này mà viên chức không tiếp tục vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì quyết định đương nhiên chấm dứt hiệu lực mà không cần ban hành văn bản mới.

Nghị định cũng quy định trường hợp viên chức chuyển sang cơ quan, đơn vị khác mới phát hiện hành vi vi phạm xảy ra tại nơi công tác cũ thì cơ quan mới vẫn có thẩm quyền xem xét xử lý kỷ luật nếu còn trong thời hiệu. Khi đó, cơ quan cũ có trách nhiệm phối hợp, cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu phục vụ quá trình xem xét.

Để bảo đảm khách quan, nghị định quy định không được cử người có quan hệ gia đình hoặc có quyền, nghĩa vụ liên quan đến hành vi vi phạm tham gia Hội đồng kỷ luật hoặc chủ trì cuộc họp kiểm điểm.

Bên cạnh đó, nghị định cũng nêu rõ các trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật, gồm: viên chức đang điều trị bệnh hiểm nghèo hoặc mất khả năng nhận thức; đang điều trị nội trú do ốm nặng; viên chức nữ đang mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi; viên chức nam trong trường hợp đặc biệt đang trực tiếp nuôi con dưới 12 tháng tuổi; viên chức đang bị khởi tố, tạm giữ, tạm giam chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền và một số trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Nghị định số 234/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7. Kể từ thời điểm này, Nghị định số 112/2020/NĐ-CP và các quy định sửa đổi, bổ sung liên quan về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức hết hiệu lực thi hành theo quy định.