Bộ trưởng Trần Hồng Minh: Phải làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi đường sắt tốc độ cao
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh nhấn mạnh, Việt Nam phải chủ động nghiên cứu, từng bước làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi đường sắt tốc độ cao, hướng tới phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược mang thương hiệu Việt Nam.
Nghiên cứu đột phá để tự chủ công nghệ
Sáng 15/5, tại Bộ Xây dựng, Bộ trưởng Trần Hồng Minh chủ trì cuộc họp với các đơn vị, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp về định hướng triển khai nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược đường sắt tốc độ cao.

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh đề nghị các đơn vị, khối trường, viện tập trung nghiên cứu KHCN công nghệ chiến lược đường sắt tốc độ cao, có sản phẩm công nghệ chiến lược (Ảnh: Tạ Hải).
Phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp, Bộ trưởng nhấn mạnh nhiệm vụ nghiên cứu khoa học công nghệ của ngành xây dựng phải mang tính đột phá, tạo ra các sản phẩm công nghệ chiến lược; nếu không sẽ chỉ dừng ở mức ứng dụng và đổi mới sáng tạo thông thường.
Theo Bộ trưởng, các nhiệm vụ liên quan đến công nghệ chiến lược đường sắt tốc độ cao đều là những vấn đề mới, phức tạp, có yêu cầu kỹ thuật cao và lần đầu tiên được nghiên cứu, triển khai trong điều kiện thực tiễn tại Việt Nam. Vì vậy, giai đoạn hiện nay cần tập trung nghiên cứu bài bản, chuyên sâu với quyết tâm làm chủ công nghệ.
“Phải nghiên cứu từ công nghệ nền, công nghệ lõi đến công nghệ phụ trợ; hướng tới tạo ra các sản phẩm công nghệ tương đương các nước phát triển như Trung Quốc, Nhật Bản, châu Âu. Chúng ta phải đổi mới tư duy, mạnh dạn nghiên cứu, quyết tâm tự làm, phát triển các sản phẩm khoa học mang thương hiệu quốc gia, thương hiệu Việt Nam và có khả năng ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn”, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Sau khi nghe ý kiến từ các đơn vị, doanh nghiệp, Bộ trưởng đề nghị giao nhiệm vụ chủ trì và phối hợp thực hiện các đề tài cho các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong, ngoài ngành xây dựng như: Đại học Giao thông Vận tải, Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải, Đại học Giao thông Vận tải TP.HCM, Đại học Xây dựng Hà Nội, Đại học Kiến trúc Hà Nội, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng cùng các doanh nghiệp như Viettel, Hòa Phát…
Các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu tập trung vào ba loại hình gồm đường sắt tốc độ cao, đường sắt điện khí hóa và đường sắt đô thị. Trong đó, các nhóm nhiệm vụ trọng tâm bao gồm: hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn và chỉ dẫn kỹ thuật; làm chủ công nghệ khảo sát, thiết kế, thi công; phát triển vật liệu, cấu kiện, linh kiện cơ khí - xây dựng; xây dựng năng lực phòng thí nghiệm, thử nghiệm và kiểm định chất lượng; phát triển cơ sở dữ liệu, chuyển đổi số; đào tạo đội ngũ chuyên gia.
Bên cạnh đó, Bộ Xây dựng sẽ phối hợp với các bộ, ngành và doanh nghiệp nghiên cứu các nội dung liên quan đến phương tiện, thiết bị, điện sức kéo, thông tin tín hiệu, vận hành, khai thác và bảo trì hệ thống.
Bộ trưởng cũng yêu cầu các đơn vị được giao nhiệm vụ phải xây dựng đề tài nghiên cứu khoa học cụ thể, lập đề cương sơ bộ, dự toán kinh phí, thành lập tổ nghiên cứu và xác định rõ tiến độ triển khai để gửi Bộ Xây dựng tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền.
Đồng thời, Bộ Xây dựng sẽ thành lập Hội đồng khoa học để kiểm duyệt, thẩm định đề tài, kiểm tra tiến độ và nghiệm thu từng phần cũng như toàn bộ nhiệm vụ. Mục tiêu đặt ra là các đề tài phải thiết thực, bảo đảm chất lượng, tiến độ khi triển khai, đáp ứng yêu cầu phát triển các dự án đường sắt hiện đại, từng bước làm chủ công nghệ nền và công nghệ lõi trong lĩnh vực đường sắt.

Các đơn vị, khối trường đại học, doanh nghiệp trong và ngoài ngành bày tỏ tinh thần quyết tâm thực hiện các nhiệm vụ, đề tài nghiên cứu công nghệ đường sắt tốc độ cao.
9 nhiệm vụ lớn phát triển công nghệ đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam
Trước đó, báo cáo lãnh đạo Bộ, ông Lê Văn Dương, Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, môi trường và vật liệu xây dựng cho biết, ngày 30/4/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg về Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược.
Tiếp đó, ngày 6/5/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 808/QĐ-TTg giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược.
Theo đó, Bộ Xây dựng được giao tập trung thực hiện mục tiêu từng bước làm chủ công nghệ xây dựng hạ tầng đường sắt tốc độ cao, đường sắt điện khí hóa tại Việt Nam, từ khảo sát, thiết kế, thi công đến sản xuất cấu kiện, phù hợp điều kiện địa chất, khí hậu và năng lực công nghiệp trong nước;
Đồng thời hình thành năng lực tự xây dựng, bảo trì, sửa chữa công trình đường sắt, giảm phụ thuộc vào công nghệ, tư vấn và nhà thầu nước ngoài, góp phần phát triển công nghiệp xây dựng đường sắt hiện đại và hạ tầng chiến lược quốc gia.
Cùng với đó, nhiệm vụ này gắn với yêu cầu huy động nguồn lực từ Nhà nước, các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, nhằm từng bước hình thành năng lực nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao, làm chủ và nội địa hóa công nghệ trong lĩnh vực đường sắt tốc độ cao và đường sắt điện khí hóa.
Triển khai các quyết định của Thủ tướng, Bộ Xây dựng đang khẩn trương xây dựng chương trình thực hiện nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược trong lĩnh vực “Công nghệ đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị”, với sản phẩm công nghệ chiến lược là “công trình xây dựng đường sắt tốc độ cao”.
Quan điểm xây dựng chương trình nhấn mạnh: đường sắt tốc độ cao là hạ tầng chiến lược quốc gia đặc biệt, không chỉ là dự án giao thông quy mô lớn mà còn là động lực hình thành năng lực mới về công nghiệp, xây dựng, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đào tạo nhân lực chất lượng cao và nâng cao năng lực tự chủ quốc gia.
Theo đó, lấy doanh nghiệp làm trung tâm trong nội địa hóa công nghệ; Nhà nước đóng vai trò điều phối, kiến tạo và đặt hàng; các viện, trường tham gia nghiên cứu, đào tạo và xác thực công nghệ; doanh nghiệp tổ chức triển khai, sản xuất và công nghiệp hóa.
Từ định hướng này, chương trình tập trung vào hai nhóm nhiệm vụ lớn gồm: công nghệ xây dựng đường sắt tốc độ cao và công nghệ, thiết bị.
Dự kiến có 9 nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ trong lĩnh vực đường sắt tốc độ cao, gồm: nghiên cứu làm chủ công nghệ, thiết bị khảo sát, thiết kế công trình; nghiên cứu giải pháp thiết kế và sản xuất tấm bản không đá ballast; nghiên cứu chế tạo, sản xuất ray đường sắt tốc độ cao;
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống điện động lực; nghiên cứu hệ thống thông tin, tín hiệu và tích hợp điều hành đoàn tàu tốc độ cao; nghiên cứu công nghệ thẻ vé tự động đáp ứng vận hành đồng bộ, hiện đại và an toàn; nghiên cứu thiết kế, chế tạo vật tư, thiết bị, phụ tùng phục vụ bảo trì phương tiện.
Bên cạnh đó là nhóm nhiệm vụ về vật liệu, cấu kiện đúc sẵn, thiết bị vận chuyển, lao lắp và thi công công trình; đồng thời đầu tư xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về công trình và hệ thống đường sắt tốc độ cao, có khả năng thực hiện các thử nghiệm phức tạp đối với kết cấu công trình, phương tiện, thiết bị và tích hợp công nghệ.
Cùng với đó, Bộ Xây dựng dự kiến triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển một số phần mềm trọng điểm phục vụ thiết kế, khảo sát, kiến trúc, kết cấu công trình đường, cầu, hầm, nhà ga…
