Bộ Xây dựng đề xuất “một chính sách, nhiều dự án” để thúc tiến độ cao tốc
Bộ Xây dựng đề xuất áp dụng chung một số cơ chế, chính sách đặc thù cho các dự án đường bộ cao tốc giai đoạn 2026-2030, thay cho cách mỗi dự án phải trình một nghị quyết riêng, nhằm tránh kéo dài thời gian chuẩn bị đầu tư.
Cần cơ chế chung để tăng tốc từ khâu chuẩn bị đầu tư
Bộ Xây dựng vừa báo cáo Chính phủ về cơ chế đặc thù cho dự án đường Vành đai-Vùng Thủ đô Hà Nội và các tuyến cao tốc giai đoạn 2026-2030 thuộc các dự án đầu tư công.

Việc nghiên cứu một số chính sách đặc biệt để bảo đảm tiến độ các dự án đường bộ giai đoạn 2026 - 2030 được đánh giá là cần thiết (Ảnh minh hoạ).
Thống kê của Bộ Xây dựng cho thấy, đến nay, Quốc hội đã ban hành 12 nghị quyết liên quan đến cơ chế, chính sách đặc biệt đối với các dự án đường bộ cao tốc, gồm 2 nghị quyết áp dụng chung cho các dự án và 10 nghị quyết riêng cho 10 dự án quan trọng quốc gia.
Các nghị quyết này quy định khoảng 9 nhóm cơ chế, chính sách đặc biệt, liên quan đến: phân cấp thẩm quyền quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội; không phải thẩm định khả năng cân đối vốn; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phân cấp đầu tư; khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường; chuyển đổi hình thức đầu tư từ PPP sang đầu tư công; bãi đổ chất thải rắn xây dựng; thi tuyển phương án kiến trúc công trình thuộc dự án và chỉ định thầu.
Qua thực tiễn triển khai, 2/9 nhóm cơ chế, chính sách đã được luật hóa, gồm phân cấp đầu tư và khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường theo quy định của Luật Đường bộ, Luật Địa chất và Khoáng sản cùng các quy định pháp luật có liên quan.
Đối với Dự án đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội, đây là dự án có quy mô và nhu cầu nguồn lực rất lớn; đồng thời mang tính chất đường vành đai đô thị, gắn với hệ thống đường song hành, phát triển đô thị, công nghiệp, dịch vụ, logistics dọc tuyến. Dự án đi qua 7 địa phương, với điều kiện địa hình đa dạng từ đồng bằng đến đồi núi.
Dự án đề xuất áp dụng 9 nhóm cơ chế, chính sách đặc thù, trong đó có 8 chính sách từng được Quốc hội cho phép áp dụng tại một số dự án khác, gồm: thẩm quyền quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư; thẩm định khả năng cân đối vốn; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; bãi đổ chất thải rắn xây dựng; chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác; chỉ định thầu; điều chỉnh các quy hoạch có liên quan; khai thác giá trị tăng thêm từ khu vực dọc tuyến. Một chính sách mới được đề xuất là cho phép chuyển đổi hình thức đầu tư.
Qua rà soát, Bộ Xây dựng nhận thấy nhiều cơ chế, chính sách đặc biệt đã được Quốc hội cho phép áp dụng lặp lại tại các dự án có tính chất tương đồng.
Theo Bộ Xây dựng, việc mỗi dự án phải trình Quốc hội ban hành một nghị quyết riêng để áp dụng những cơ chế, chính sách cơ bản giống nhau không chỉ kéo dài thời gian chuẩn bị đầu tư mà còn có thể dẫn đến cách xử lý thiếu thống nhất giữa các dự án có tính chất tương đồng.
4 nhóm chính sách có thể nghiên cứu áp dụng chung
Về khả năng áp dụng các chính sách đặc biệt đang dự kiến đề xuất cho dự án đường Vành đai 5 cho các dự án đường bộ cao tốc khác, Bộ Xây dựng cho rằng, 5 nhóm chính sách đề nghị không áp dụng chung cho các dự án khác.
Cụ thể là chính sách phân cấp cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư do chính sách này chỉ áp dụng cho dự án quan trọng quốc gia khi trình Quốc hội nên không xem xét áp dụng chung cho tất cả nhóm dự án khác.
Các chính sách không thẩm định nguồn vốn, khả năng cân đối vốn do dự án Vành đai 5 có quy mô lớn (chiều dài tổng thể 349km), khả năng cân đối giai đoạn 2026-2030 chỉ đáp ứng khoảng gần 28% sơ bộ tổng mức đầu tư nên cần cơ chế này để Quốc hội xem xét, thông qua chủ trương một lần, trước mắt triển khai các đoạn phù hợp với khả năng cân đối vốn; các đoạn còn lại sẽ triển khai trong thời gian tiếp theo. Cơ chế này đã xin ý kiến Bộ Chính trị.
Các dự án khác có quy mô nhỏ hơn Vành đai 5 nên phải đánh giá khả năng cân đối vốn, tránh việc quyết định đầu tư đồng loạt khi chưa xác định được nguồn vốn, dẫn đến công trình dở dang, gây thất thoát, lãng phí, tuân thủ quy định của Ban Chỉ đạo Trung ương.
Đối với chính sách điều chỉnh các quy hoạch có liên quan chỉ áp dụng cho dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng liên quan TOD và dự án đường Vành đai 5 liên quan đến quy mô quy hoạch đường song hành theo các quy hoạch của địa phương, không áp dụng rộng rãi nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống quy hoạch hiện hành.
Ngoài ra, chính sách khai thác giá trị đất tăng thêm dọc tuyến cũng chưa có đánh giá, tổng kết về kết quả thực hiện.
Chuyển đổi hình thức đầu tư cũng là chính sách được Bộ Xây dựng đề xuất áp dụng với dự án Vành đai 5 Vùng Thủ đô Hà Nội, không áp dung chung cho các dự án.
Nguyên nhân do dự án đường Vành đai 5 Vùng Thủ đô Hà Nội được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư công, cần xin phân cấp điều chỉnh hình thức đầu tư. Các dự án khác (không phải dự án quan trọng quốc gia) cấp có thẩm quyền là Bộ trưởng/Chủ tịch UBND cấp tỉnh thực hiện theo quy định hiện hành, không phải đề xuất cơ chế, chính sách đặc thù.
Căn cứ thực tiễn nghiên cứu và triển khai, theo Bộ Xây dựng, có 4 nhóm chính sách sơ bộ có thể xem xét, nghiên cứu để áp dụng chung: chính sách chỉ định thầu; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; chuyển đổi mục đích sử dụng rừng; bãi đổ thải.
Để đẩy nhanh tiến độ triển khai, huy động nguồn lực và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền các dự án đường bộ cao tốc, Bộ Xây dựng kiến nghị Chính phủ có ý kiến thống nhất áp dụng một số cơ chế, chính sách đặc biệt của dự án đường Vành đai 5 để áp dụng chung cho các dự án đường bộ cao tốc triển khai đầu tư công trong giai đoạn 2026-2030.
Bộ Xây dựng đồng thời kiến nghị Chính phủ giao Bộ Tư pháp hướng dẫn trình tự, thủ tục xây dựng, trình Quốc hội; thẩm định đề xuất chính sách đặc thù áp dụng chung cho các dự án đường bộ cao tốc bảo đảm phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành.
Theo quy hoạch, hệ thống đường cao tốc bao gồm 46 tuyến, tổng chiều dài 10.106 km. Đến nay, có 3.345km đã đưa vào khai thác và thông xe kỹ thuật 3.345km, đang thi công xây dựng 1.252km.
Trường hợp các dự án đang thi công triển khai đúng tiến độ yêu cầu, đến năm 2027 cả nước có khoảng 4.597km đường bộ cao tốc. Như vậy, giai đoạn 2026 - 2030 chỉ cần hoàn thành thêm khoảng 403km là đạt mục tiêu "đến năm 2030, đưa vào sử dụng trên 5.000km đường bộ cao tốc".
Trong giai đoạn 2026 - 2030, dự kiến có khoảng 1.758km đường bộ cao tốc đang được chuẩn bị đầu tư, gồm: khoảng 1.217km dự án thuộc Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; khoảng 166km dự án đã được dự kiến cân đối, bố trí vốn; khoảng 375km dự án chưa được dự kiến cân đối, bố trí vốn.
Ngoài ra, một số tuyến cao tốc đang được các địa phương nghiên cứu, huy động nguồn lực để đầu tư.