Chính sách đặc thù tạo đà đưa hơn 700km đường bộ cao tốc vào khai thác
Các cơ chế thí điểm được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 106/2023/QH15 đã xử lý được nhiều điểm nghẽn lớn, tạo đà cho hơn 700km đường bộ cao tốc hoàn thành, đưa vào khai thác.
Rút ngắn thủ tục, tăng tính chủ động
Bộ Xây dựng vừa có văn bản gửi Bộ Tài chính về việc thực hiện Nghị quyết số 106/2023/QH15 của Quốc hội về thí điểm một số chính sách đặc thù về đầu tư xây dựng công trình đường bộ.

Cơ chế thí điểm đặc thù, đặc biệt là cơ chế liên quan đến nguồn vật liệu đã giúp nhiều dự án đường bộ cao tốc bảo đảm được nguồn lực, tăng tốc thi công về đích sớm (Ảnh minh hoạ).
Theo Bộ Xây dựng, Nghị quyết 106 đã tạo hành lang pháp lý kịp thời để xử lý một số điểm nghẽn lớn trong đầu tư xây dựng công trình đường bộ.
Hiệu quả thể hiện rõ ở việc rút ngắn thủ tục khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường khoảng 10 tháng, tăng tính chủ động về nguồn cung, hạn chế đầu cơ và biến động giá; huy động kịp thời nguồn tăng thu ngân sách trung ương năm 2022 cho dự án Cao Bồ - Mai Sơn; tăng quyền chủ động và trách nhiệm của địa phương đối với các dự án quốc lộ, đường cao tốc và dự án liên tỉnh.
Theo báo cáo của các chủ đầu tư, các dự án đã hoàn thành, đưa vào khai thác hơn 739km đường bộ, hoàn thành mở rộng hơn 15km tuyến Cao Bồ - Mai Sơn, hoàn thành nâng cấp, cải tạo gần 29km tuyến Cao Lãnh - Lộ Tẻ, góp phần cải thiện kết nối liên vùng và năng lực vận tải.
Còn tình trạng mất cân đối phân bố nguồn vật liệu
Nhìn nhận việc thực hiện Nghị quyết 106 có thuận lợi lớn nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, sự phối hợp của các bộ, ngành, địa phương và cơ chế thủ tục đơn giản hơn so với quy định thông thường, tuy vậy, một số khó khăn cũng được Bộ Xây dựng chỉ ra.
Trong đó, việc áp dụng nghị chưa thống nhất giữa các địa phương; thủ tục đất đai và thỏa thuận với người sử dụng đất; công suất khai thác chưa đáp ứng nhu cầu tiến độ; năng lực khai thác của một số nhà thầu còn hạn chế; phân bố nguồn vật liệu mất cân đối giữa các vùng; nguy cơ sạt lở, suy giảm trầm tích, tác động môi trường và biến động giá trên thị trường.
Nguyên nhân khách quan là đặc điểm phân bố địa chất không đồng đều, nguồn cát sông suy giảm, điều kiện khai thác và vận chuyển cát biển phụ thuộc thời tiết, trong khi nhu cầu vật liệu tăng nhanh do nhiều dự án triển khai đồng thời.
Nguyên nhân chủ quan là công tác chuẩn bị nguồn vật liệu ở một số dự án chưa đi trước một bước; quy trình phối hợp, phân công trách nhiệm và hướng dẫn ban đầu chưa đầy đủ; năng lực quản lý của một số địa phương, chủ đầu tư và nhà thầu còn hạn chế; việc thực hiện cam kết vốn và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan chưa kịp thời.
Cũng theo Bộ Xây dựng, thời gian thí điểm chính sách quy định Nghị quyết 106 kết thúc ngày 30/6/2025, một số dự án như cao tốc Dầu Giây - Tân Phú do hoàn thành các thủ tục lựa chọn nhà thầu thi công sau ngày 30/6/2025 nên không được áp dụng cơ chế đặc thù theo Nghị quyết số 106.
Để phù hợp với điều kiện thực tế, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP ngày 21/9/2025 về các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn trong triển khai Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024, trong đó có cơ chế rút gọn thủ tục cấp phép, nâng công suất và gia hạn khai thác mỏ phục vụ các dự án trọng điểm; điều tiết linh hoạt nguồn vật liệu giữa các dự án.
Các cơ chế này tiếp tục được thể chế hóa tại Luật số 147/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15, góp phần khắc phục khoảng trống pháp lý sau khi chính sách thí điểm kết thúc.
Mặc dù nghị quyết đã được Chính phủ kịp thời ban hành, thế nhưng, một số nội dung cần tiếp tục rà soát, điều chỉnh để phù hợp hơn nữa với điều kiện thực tế.
Trước mắt là trong giai đoạn 2026 - 2030, nhu cầu vật liệu cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long là rất lớn, song, nguồn cát sông không thể đáp ứng, nguồn cung ứng vật liệu cát, đá cho các dự án chủ yếu chỉ tập trung tại một số địa phương.
Nguồn cát biển có trữ lượng lớn nhưng do đặc thù khai thác trên biển nên phương tiện đáp ứng đủ các điều kiện để khai thác không nhiều, việc khai thác khu vực gần bờ biển với mức mớn nước thấp nên chỉ sử dụng được các tàu công suất nhỏ. Ngoài ra do biển động, gió chướng nên chỉ có thể khai thác từ tháng 3 đến hết tháng 8 trong năm. Sau khi khai thác phải rửa mặn, trung chuyển cát nhiều lần từ tàu to sang tàu nhỏ, cự ly vận chuyển xa dẫn đến giá thành vật liệu cát biển cao hơn so với cát sông, các địa phương còn hạn chế sử dụng.

Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long được vẫn đang đối diện thách thức lớn về nguồn vật liệu trong thi công các dự án giao thông trọng điểm (Ảnh minh hoạ).
Xây dựng cơ chế nguồn vật liệu theo vùng, kịp thời xử lý sự chồng chéo
Bộ Xây dựng cho rằng, thời gian tới cần tục rà soát, hoàn thiện và tổ chức thực hiện thống nhất các quy định đã luật hóa từ Nghị quyết 106; kịp thời tổng hợp những nội dung còn chồng chéo giữa pháp luật về địa chất, khoáng sản, đất đai, môi trường, đầu tư công, ngân sách nhà nước và quản lý tài sản công để xử lý theo thẩm quyền.
Cơ chế dự báo, cân đối và điều phối nguồn vật liệu theo vùng, liên vùng cần được xây dựng; đầu mối cập nhật nhu cầu, trữ lượng, công suất, giá và khả năng vận chuyển cần được thiết lập, ưu tiên nguồn vật liệu cho các công trình, dự án quan trọng quốc gia nhưng không làm mất cân đối nhu cầu dân sinh và sản xuất tại địa phương.
Chất lượng chuẩn bị dự án cần được nâng cao, phải xác định đầy đủ nguồn vật liệu, phương án giải phóng mặt bằng khu vực mỏ, chi phí khai thác - vận chuyển, tác động môi trường và phương án thay thế.
Giải quyết bài toán vật liệu thi công ở khu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, 3 giải pháp trọng tâm được Bộ Xây dựng.
Một là chủ động nghiên cứu các khu vực phù hợp để sử dụng cát biển, giảm áp lực cho nguồn cát sông; xem xét quy hoạch các khu vực được sử dụng cát biển gắn với quy hoạch vùng sản xuất để mở rộng phạm vi sử dụng cát biển; có giải pháp xử lý giảm độ mặn để sử dụng làm vật liệu đắp nền cho các công trình.
Hai là chủ động tổ chức nhập khẩu cát Campuchia để cung ứng cho các công trình, dự án (nếu cần).
Ba là nghiên cứu giải pháp cầu cạn khi đầu tư xây dựng các tuyến đường bộ cao tốc khu vực ĐBSCL ngay từ bước lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư hoặc đề xuất dự án; phân tích, làm rõ ưu nhược điểm của các phương án để xem xét, quyết định theo thẩm quyền, bảo đảm tính kinh tế kỹ thuật, hiệu quả đầu tư cho cả vòng đời dự án và bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường.
Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cần so sánh đồng thời phương án sử dụng cát sông, cát biển, vật liệu thay thế và giải pháp kết cấu theo chi phí vòng đời, hiệu quả kinh tế - xã hội và tính bền vững môi trường.
Công tác quản lý tiến độ, chất lượng, chi phí, giải ngân, an toàn và môi trường cần được tăng cường; phải kiểm soát chặt hoạt động khai thác, vận chuyển khoáng sản, công bố giá vật liệu phù hợp với thị trường và chuỗi cung ứng; công khai thông tin, tiếp nhận phản ánh của người dân, xử lý nghiêm hành vi khai thác sai phạm, đầu cơ, nâng giá và gây mất an toàn, sạt lở hoặc ảnh hưởng sinh kế cộng đồng.
Các bên liên quan cũng phải đôn đốc hoàn thành các hạng mục còn lại, điều chỉnh kế hoạch vốn phù hợp với khả năng thực hiện; chuẩn bị đầy đủ hồ sơ bàn giao tài sản, tổ chức quản lý, khai thác, bảo trì và quyết toán dự toán ngay khi công trình hoàn thành.
Trên cơ sở nhiệm vụ, giải pháp đề ra, Bộ Xây dựng đề nghị cấp có thẩm quyền tiếp tục tổ chức thực hiện các quy định đã luật hóa về tỷ lệ vốn nhà nước trong dự án PPP, giao địa phương làm cơ quan chủ quản, hỗ trợ ngân sách giữa các địa phương và khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường.
Bộ chuyên ngành quản lý về khoáng sản hướng dẫn các địa phương rà soát, đánh giá tiềm năng, trữ lượng, chất lượng các mỏ vật liệu xây dựng; tổ chức điều phối nguồn vật liệu giữa các địa phương (địa phương có vật liệu cho địa phương còn thiếu); hướng dẫn trình tự bồi thường, hỗ trợ, phục hồi môi trường, đánh giá tác động lòng, bờ, bãi sông và trách nhiệm quản lý mỏ sau khai thác.
Các địa phương có mỏ cần rà soát nâng công suất các mỏ đang hoạt động, tổ chức cấp phép khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường để cung ứng cho các công trình, dự án theo phương án điều phối.
UBND các tỉnh, thành phố cần giao một cơ quan đầu mối tiếp nhận, theo dõi và điều phối nguồn vật liệu phục vụ thi công các dự án; các địa phương có nhu cầu cần cung ứng vật liệu chủ động phối hợp với các địa phương có mỏ triển khai các thủ tục liên quan để hình thành các chuỗi liên kết, cung ứng vật liệu ổn định; thông báo giá phù hợp với mặt bằng giá của chuỗi cung ứng làm cơ sở lập dự toán.