Đường bộ

Công nghệ xanh, vật liệu mới tạo dấu ấn trong lĩnh vực đường bộ

-

Không chỉ dừng ở định hướng chính sách, tăng trưởng xanh trong lĩnh vực đường bộ đang hiện hữu qua hàng loạt công nghệ và vật liệu mới được ứng dụng vào xây dựng, bảo trì và vận hành hạ tầng giao thông.

Tăng tốc chuyển đổi xanh, giảm phát thải

Cục Đường bộ Việt Nam vừa có văn bản gửi Bộ Xây dựng báo sơ kết giữa kỳ thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh. 

Theo đó, Cục Đường bộ Việt Nam đã xây dựng nhiều kế hoạch chuyên ngành nhằm cụ thể hóa lộ trình giảm phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực đường bộ. Đáng chú ý, năm 2024, cơ quan này ban hành các kế hoạch thực hiện chương trình chuyển đổi năng lượng xanh và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong giao thông vận tải đến năm 2050.

Công nghệ xanh, vật liệu mới tạo dấu ấn trong lĩnh vực đường bộ- Ảnh 1.

Doanh nghiệp vận tải gặp nhiều khó khăn trong thay thế phương tiện truyền thống bằng xe điện hoặc phương tiện sử dụng năng lượng sạch do nguồn vốn đàu tư lớn (Ảnh minh họa).

Song song với đó, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật phục vụ thích ứng biến đổi khí hậu cũng được hoàn thiện. Giai đoạn 2021-2025, Cục Đường bộ Việt Nam đã chủ trì xây dựng và ban hành 3 Tiêu chuẩn Việt Nam cùng 4 tiêu chuẩn cơ sở liên quan đến nâng cao khả năng chống chịu của công trình giao thông trước tác động của biến đổi khí hậu và giảm phát thải khí nhà kính.

Một trong những dấu ấn nổi bật là việc lồng ghép yêu cầu phát triển hạ tầng cho phương tiện sử dụng năng lượng sạch vào hệ thống pháp luật mới. Luật Đường bộ 2024 quy định trạm dừng nghỉ, bến xe phải bố trí hệ thống sạc điện cho phương tiện giao thông cơ giới sử dụng năng lượng điện; đồng thời ưu tiên phát triển hạ tầng cung cấp năng lượng sạch.

Cùng với đó, quy hoạch kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 cũng đã lồng ghép quy hoạch các điểm, trạm sạc điện trong mạng lưới giao thông đường bộ quốc gia.

Không chỉ dừng ở hoàn thiện thể chế, lĩnh vực đường bộ thời gian qua đã ghi nhận nhiều kết quả cụ thể trong triển khai tăng trưởng xanh và thích ứng biến đổi khí hậu.

Theo báo cáo, nhiều công nghệ mới, vật liệu thân thiện môi trường đã được áp dụng trong đầu tư xây dựng và bảo trì hạ tầng giao thông. Dự án VRAMP đã ứng dụng công nghệ cào bóc tái sinh mặt đường nhằm giảm sử dụng tài nguyên và hạn chế khí thải. Dự án LRAMP triển khai bê tông siêu tính năng UHPC tại một số cầu ở Thái Nguyên, Nghệ An, Trà Vinh và cầu Thăng Long nhằm tăng tuổi thọ công trình, giảm vật liệu và nâng cao khả năng chống chịu trước tác động khí hậu cực đoan.

Nhiều giải pháp kỹ thuật chống sạt lở, gia cố mái taluy, chống đá lăn bằng vật liệu thân thiện môi trường cũng được triển khai trên các tuyến quốc lộ miền núi. Các công nghệ mới như Carboncor Asphalt, Microsurfacing hay vật liệu gia nhiệt đàn hồi độ bền cao cũng đã được thử nghiệm trong sửa chữa mặt đường và khe co giãn cầu.

Trong công tác vận hành, ngành đường bộ đang đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số thông qua sử dụng dữ liệu GPS, camera, flycam, tích hợp hệ thống báo cáo thiên tai và ùn tắc giao thông theo thời gian thực để nâng cao năng lực quản lý, điều hành. Đồng thời, cơ sở dữ liệu quốc gia về sạt lở, mưa lũ và sự cố đường bộ cũng đang được xây dựng nhằm phục vụ dự báo, cảnh báo sớm và quản lý rủi ro thiên tai.

Bên cạnh đó, việc sử dụng năng lượng tái tạo và công nghệ tiết kiệm năng lượng như đèn LED, pin mặt trời cũng được tăng cường trong các hạng mục chiếu sáng, báo hiệu giao thông trên hệ thống quốc lộ.

Đề xuất nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vận tải

Dù đạt nhiều kết quả bước đầu, Cục Đường bộ Việt Nam thừa nhận quá trình triển khai chiến lược tăng trưởng xanh trong lĩnh vực đường bộ vẫn đối mặt không ít thách thức.

Theo cơ quan này, khó khăn lớn nhất hiện nay là chưa có quy hoạch tổng thể về hạ tầng cung cấp năng lượng mới thay thế xăng dầu như hydro, ammoniac; đồng thời chưa có quy hoạch mạng lưới truyền tải điện phục vụ hệ thống trạm sạc điện trên các tuyến cao tốc và quốc lộ. Điều này khiến việc xác định nhu cầu vốn đầu tư và lộ trình phát triển hạ tầng năng lượng sạch còn gặp nhiều vướng mắc.

Một vấn đề khác là chưa có quyết định chính thức về thời điểm dừng sản xuất và nhập khẩu xe chạy bằng xăng dầu. Theo Cục Đường bộ Việt Nam, đây là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp vận tải xây dựng kế hoạch tài chính, lộ trình chuyển đổi phương tiện nhằm đáp ứng mục tiêu đến năm 2050 chuyển đổi hoàn toàn sang phương tiện không phát thải khí nhà kính.

Ngoài ra, các doanh nghiệp vận tải được xác định là nhóm chịu tác động lớn nhất của quá trình chuyển đổi xanh. Việc thay thế phương tiện truyền thống bằng xe điện hoặc phương tiện sử dụng năng lượng sạch đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, trong khi nguy cơ làm gia tăng chi phí logistics là hiện hữu. Vì vậy, Cục Đường bộ Việt Nam kiến nghị cần có các cơ chế hỗ trợ như ưu đãi lãi suất, ưu đãi thuế, hỗ trợ phí và chính sách bù giá để giúp doanh nghiệp có đủ năng lực tài chính thực hiện chuyển đổi.

Cơ quan này cũng cho rằng nguồn lực dành cho bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ hiện vẫn chưa đáp ứng nhu cầu thực tế, ảnh hưởng đến khả năng nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới và chuyển đổi số trong quản lý vận hành hạ tầng giao thông.

Trong thời gian tới, Cục Đường bộ Việt Nam đề xuất tập trung xây dựng quy định về quản lý phương tiện giao thông điện và phát triển hạ tầng sạc điện; xây dựng tiêu chí “bến xe xanh”, “trạm dừng nghỉ xanh”; khuyến khích phát triển hạ tầng cung cấp năng lượng xanh trên hệ thống quốc lộ và cao tốc.

Đặc biệt, cơ quan này kiến nghị Bộ Xây dựng phối hợp với Bộ Công Thương nghiên cứu sớm công bố lộ trình chấm dứt sản xuất xe sử dụng xăng dầu trước năm 2040 để tạo cơ sở cho doanh nghiệp vận tải chủ động chuyển đổi phương tiện, tránh nguy cơ đứt gãy hoạt động vận tải trong tương lai.