ĐBQH kiến nghị nghiêm cấm xếp chương trình học liên kết xen kẽ giờ chính khóa
Nhắc lại chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về việc "không thể biến trường học thành nơi làm dịch vụ thu tiền", ĐBQH kiến nghị cần nghiêm cấm xếp chương trình học liên kết xen kẽ với giờ chính khóa.
Chiều 20/4, thảo luận ở hội trường về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đại biểu Nguyễn Thị Thủy (đoàn Thái Nguyên) ghi nhận những tâm huyết của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong triển khai chủ trương cải cách giáo dục của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh những thành tựu, đại biểu chỉ ra hai vấn đề còn tồn tại trong ngành giáo dục.

Đại biểu Nguyễn Thị Thủy (đoàn Thái Nguyên). Ảnh: Media Quốc hội.
Trước hết là vấn đề liên kết đào tạo, theo đại biểu, nhiều phụ huynh chia sẻ: học phí hiện đã được Nhà nước miễn toàn bộ, ăn trưa cũng được hỗ trợ, toàn dân rất phấn khởi; tuy nhiên, chi phí nặng lại nằm ở các chương trình học liên kết.
Thực tế, các chương trình này đang được triển khai tại nhiều địa phương, trong đó nhà trường ký hợp đồng với các công ty để dạy các môn bổ trợ như tiếng Anh nâng cao, tin học quốc tế, AI, kỹ năng sống…
Tuy nhu cầu cho con em học các môn bổ trợ là có thực nhưng việc tổ chức quá dày đặc các chương trình liên kết đang có nguy cơ chồng chéo nội dung giảng dạy, đặc biệt, chất lượng các môn bổ trợ này chưa được kiểm định, đánh giá đầy đủ.
"Vấn đề bức xúc nhất là có những trường xếp chương trình học liên kết xen kẽ với giờ học chính khóa. Khi đó, phụ huynh buộc phải cho con tham gia; nếu không, các em sẽ phải tách ra sinh hoạt riêng, dễ nảy sinh tâm lý mặc cảm, khác biệt", đại biểu nêu thực tế.
Theo bà, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng chỉ đạo "không thể biến trường học thành nơi làm dịch vụ thu tiền"; đồng thời yêu cầu rà soát, kiểm tra ngay tình trạng Nhà nước miễn học phí nhưng nhà trường lại tổ chức nhiều khoản thu khác, trong đó có học liên kết.
Vì vậy, đại biểu đoàn Thái Nguyên kiến nghị, trước hết, cần nghiêm cấm việc xếp chương trình học liên kết xen kẽ với giờ học chính khóa và đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo thanh tra, kiểm tra nghiêm.
Nếu tiếp tục duy trì mô hình này, cần bảo đảm đúng tính chất của trường công, đó là công khai, minh bạch tài chính và chia sẻ chi phí với phụ huynh; tránh tình trạng danh nghĩa là công nhưng hoạt động như tư, khiến phụ huynh phải gánh chi phí lớn.
Về lâu dài, đại biểu kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu kế hoạch đào tạo, tuyển dụng, bồi dưỡng và điều phối giáo viên trong vùng, trong địa phương để đáp ứng việc giảng dạy các môn này; tránh tình trạng học sinh phải liên kết học thêm để đủ kiến thức.
Nêu vấn đề thứ hai về việc thay đổi quy chế tuyển sinh đại học, đại biểu Thuỷ cho hay, Luật Giáo dục Đại học (Điều 25) yêu cầu phải có lộ trình phù hợp khi điều chỉnh quy chế tuyển sinh.
Tuy nhiên, thời gian qua, phụ huynh và học sinh luôn trong trạng thái thấp thỏm khi mỗi mùa thi lại có thay đổi, đặc biệt việc thay đổi thường diễn ra sát thời điểm thi.
Ví dụ, mùa thi năm 2025, Bộ ban hành quy chế vào ngày 19/3; mùa thi năm 2026 ban hành ngày 15/2 và có hiệu lực ngay, tức là chỉ còn hơn 3 tháng trước kỳ thi.
Trong khi đó, việc học tập để vượt qua kỳ thi "hai trong một", đạt ngưỡng vào đại học đã là áp lực rất lớn đối với học sinh.
Nhiều học sinh có kế hoạch ôn tập từ lớp 10 để thi đại học. Vì vậy, việc liên tục thay đổi quy chế vào thời điểm cận kề càng ảnh hưởng đến tâm thế và sự chủ động chuẩn bị của cả phụ huynh và học sinh.
Do đó, đại biểu kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo cần nghiên cứu thời điểm ban hành và hiệu lực phù hợp đối với những chính sách lớn, để phụ huynh và học sinh có thời gian chuẩn bị.

Đại biểu Nguyễn Thị Lan (đoàn Hà Nội) tham gia thảo luận. Ảnh: Media Quốc hội.
Quan tâm đến đào tạo nhân lực chất lượng cao, đại biểu Nguyễn Thị Lan (đoàn Hà Nội) cho biết hiện đã có định hướng về công nghệ chiến lược và một số chương trình đào tạo chất lượng cao, tuy nhiên còn thiếu cách tiếp cận theo ngành và thiếu chương trình đào tạo nhân lực nòng cốt đủ mạnh để tạo ra đột phá thực chất.
Từ đó, đại biểu đề nghị cần có chương trình đột phá thực sự trong phát triển nguồn nhân lực, không đào tạo đại trà mà tập trung xây dựng lực lượng nòng cốt có khả năng làm chủ công nghệ lõi, dẫn dắt nghiên cứu và tạo ra giá trị thực.
Đào tạo cần chuyển mạnh sang tiếp cận theo năng lực, gắn với doanh nghiệp và thị trường, có sản phẩm đầu ra cụ thể, đi kèm với cơ chế đặt hàng, khoán theo kết quả; đồng thời cần tăng cường hợp tác quốc tế để huy động đội ngũ chuyên gia quốc tế và học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia phát triển.
