ĐBSCL cần hơn 32.000 tỷ đồng ứng phó sụt lún, sạt lở và hạn mặn
Ngày 9/5, tại Cần Thơ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội nghị triển khai Kết luận số 26-KL/TW của Bộ Chính trị về phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán và xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) giai đoạn 2026 - 2035.
Xuất hiện 812 điểm sạt lở toàn vùng
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ĐBSCL đang chịu áp lực ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu, suy giảm phù sa, khai thác nước ngầm và cát sông quá mức. Hiện toàn vùng ghi nhận mức sụt lún phổ biến từ 0,5-3cm mỗi năm; riêng các khu vực ven biển, nhiều nơi lún trên 2,5cm mỗi năm. Trong vòng 5 năm qua, nhiều khu vực đã sụt lún hơn 10cm.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng (thứ 2, từ phải sang trái) nghe ông Trương Cảnh Tuyên, Chủ tịch UBND TP Cần Thơ thuyết trình hiện trạng quy hoạch thành phố.
Từ năm 2016 đến nay, toàn vùng xuất hiện 812 điểm sạt lở với tổng chiều dài hơn 1.210km; trong đó có 315 điểm đặc biệt nguy hiểm, đe dọa trực tiếp khu dân cư, đê điều và hạ tầng trọng yếu.
Tình trạng ngập úng do triều cường cũng diễn biến nghiêm trọng hơn, đặc biệt tại Cần Thơ với nhiều khu vực ngập sâu 0,6-0,7m, thời gian ngập kéo dài từ 4-6 giờ mỗi đợt triều, thậm chí tới 10-12 giờ khi kết hợp mưa lớn.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, một trong những nguyên nhân lớn là việc các quốc gia thượng nguồn sông Mekong đã xây dựng 128 hồ chứa với tổng dung tích khoảng 88 tỷ m3, giữ lại phần lớn lượng phù sa tự nhiên. Cùng với đó, việc khai thác cát quá mức và nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng khiến tình trạng sạt lở, hạn hán, xâm nhập mặn diễn biến phức tạp hơn.
Trước thực trạng trên, Kết luận số 26-KL/TW đặt ra 7 nhóm giải pháp trọng tâm cho toàn vùng ĐBSCL. Trong đó, ưu tiên rà soát, bổ sung các nội dung chống sụt lún, sạt lở, hạn mặn vào hệ thống quy hoạch; quản lý chặt khai thác cát, nước ngầm; đầu tư hệ thống thủy lợi, đê điều và chống ngập đô thị theo hướng liên vùng, đa mục tiêu.

Quang cảnh hội nghị chiều 9/5.
"Một trong những giải pháp là ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo trong dự báo thiên tai, giám sát sụt lún và vận hành công trình thủy lợi theo thời gian thực. Các địa phương cũng được yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, kết nối liên thông để phục vụ cảnh báo sớm; đồng thời rà soát, di dời dân cư khỏi khu vực nguy cơ sạt lở, ngập úng cao, kiểm soát chặt hoạt động xây dựng ven sông, ven biển", ông Nguyễn Hoàng Hiệp đề xuất.
Ông Trương Cảnh Tuyên, Chủ tịch UBND TP Cần Thơ cho biết, sau sáp nhập đơn vị hành chính, TP Cần Thơ hiện có diện tích hơn 6.360km2, dân số gần 4,2 triệu người.
Địa phương đang quản lý hệ thống thủy lợi quy mô lớn với gần 12.900km kênh rạch, 72km bờ biển, gần 668km đê bao, 889 cống và 292 trạm bơm điện. Thành phố xác định việc triển khai Kết luận số 26-KL/TW là nhiệm vụ trọng tâm, lâu dài, theo tinh thần "chủ động thích ứng", "thuận thiên", lấy người dân làm trung tâm và tăng cường liên kết vùng.
Từ thực tiễn địa phương, TP Cần Thơ kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường sớm hoàn thiện các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật về quản lý tài nguyên nước, khai thác cát, nước ngầm và hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu; đồng thời ưu tiên đầu tư các công trình kiểm soát sụt lún, sạt lở, ngập úng và xâm nhập mặn mang tính liên vùng.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp đưa ra các giải pháp phòng chống sạt lở, sụt lún ở ĐBSCL.
Cần hơn 32.000 tỷ đồng cho 8 dự án ưu tiên
Để triển khai các giải pháp trên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đề xuất danh mục 8 dự án ưu tiên giai đoạn 2026-2030 với tổng vốn hơn 32.593 tỷ đồng, dự kiến bố trí khoảng 29.059 tỷ đồng trong giai đoạn đầu.
Trong đó, đáng chú ý là dự án chống ngập úng, sạt lở và thích ứng biến đổi khí hậu TP Cần Thơ với tổng vốn 6.500 tỷ đồng. Dự án dự kiến xây dựng 3 cống âu thuyền Ô Môn, Trà Nóc và Bình Thủy nhằm kiểm soát triều cường, điều tiết nguồn nước khu vực phía Nam sông Hậu.
Ngoài ra còn có dự án kiểm soát nguồn nước bờ Nam sông Hậu giai đoạn 2 vốn 2.400 tỷ đồng; dự án xây dựng, nâng cấp hệ thống đê biển Đông và đê biển Tây vùng ĐBSCL vốn 6.700 tỷ đồng; cùng nhiều dự án thủy lợi ven biển sử dụng vốn ODA của Ngân hàng Thế giới và Chính phủ Nhật Bản.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các dự án được định hướng theo nguyên tắc "thuận thiên", kết hợp giữa giải pháp công trình và phi công trình nhằm nâng cao khả năng chống chịu tổng hợp, bảo đảm phát triển bền vững cho toàn vùng ĐBSCL trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan.

Ngư dân thu hoạch cá tại Cảng cá Trần Đề.
Chuyển từ ứng phó bị động sang chủ động thích ứng
Phát biểu kết luận hội nghị, ông Trịnh Việt Hùng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh, tình trạng sụt lún, sạt lở và ngập úng tại ĐBSCL đang diễn biến ngày càng nghiêm trọng, không còn là vấn đề riêng của từng địa phương mà đã trở thành thách thức liên vùng, liên ngành.
Theo Bộ trưởng, ĐBSCL là vùng kinh tế chiến lược của cả nước nhưng đang chịu tác động lớn từ biến đổi khí hậu, nước biển dâng, khai thác nước ngầm, cát sông quá mức và ảnh hưởng từ thượng nguồn sông Mekong.
Bộ trưởng đề nghị các địa phương chuyển mạnh từ tư duy "ứng phó bị động" sang "chủ động phòng ngừa, thích ứng"; khẩn trương cụ thể hóa Kết luận số 26-KL/TW thành kế hoạch hành động cụ thể, gắn với nguồn lực và tiến độ thực hiện.
Các địa phương cũng được yêu cầu tăng cường quản lý khai thác cát, nước ngầm; kiểm soát xây dựng ven sông, ven biển; ưu tiên di dời dân cư khỏi khu vực nguy cơ cao xảy ra sạt lở, ngập úng.
"Phải chuyển từ đầu tư đơn lẻ sang đầu tư tổng thể, liên vùng, đa mục tiêu; ưu tiên các công trình điều tiết nguồn nước, kiểm soát mặn, chống ngập và phục hồi hệ sinh thái tự nhiên", Bộ trưởng nhấn mạnh.
