Hà Nội thúc đẩy nông nghiệp xanh, nâng tầm giá trị nông sản
Từ thay đổi phương thức canh tác, sử dụng chế phẩm sinh học đến tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, Hà Nội đang từng bước thúc đẩy sản xuất xanh, góp phần nâng cao chất lượng nông sản, bảo vệ môi trường và hướng tới nền nông nghiệp phát triển bền vững.
Thay đổi từ chính cách người dân làm nông
Trong quá trình đô thị hóa nhanh, nông nghiệp Hà Nội đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ để vừa nâng cao giá trị sản xuất, vừa bảo vệ môi trường và chất lượng sống ở khu vực nông thôn. Một trong những vấn đề được đặt ra là giảm dần sự phụ thuộc vào phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật và chuyển sang các giải pháp sinh học, hữu cơ, thân thiện với môi trường.

Phân bón hữu cơ sinh học có khả năng thúc đẩy hệ vi sinh vật đất phát triển, giúp sản phẩm nông nghiệp được an toàn hơn.
Nhiều năm qua, việc sử dụng phân bón vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật hóa học vẫn là thói quen phổ biến trong sản xuất nông nghiệp. Phương thức này có thể giúp cây trồng sinh trưởng nhanh, nhưng nếu sử dụng thiếu kiểm soát sẽ làm suy giảm chất lượng đất, ảnh hưởng đến nguồn nước và hệ sinh thái đồng ruộng.
Đất canh tác sử dụng quá nhiều phân bón hóa học trong thời gian dài có nguy cơ mất cân bằng dinh dưỡng, giảm lượng mùn và hệ vi sinh vật có lợi. Trong khi đó, một lượng hóa chất tồn dư có thể theo nước mưa, nước tưới chảy vào ao hồ, kênh mương, tác động đến môi trường sinh thái và chất lượng nguồn nước.
Không chỉ vậy, bài toán xử lý phụ phẩm nông nghiệp cũng đang đặt ra yêu cầu cấp thiết. Rơm rạ, phụ phẩm trồng trọt hay chất thải chăn nuôi nếu không được xử lý đúng cách sẽ trở thành nguồn gây ô nhiễm. Việc đốt rơm rạ sau thu hoạch không chỉ gây lãng phí nguồn tài nguyên hữu cơ mà còn làm gia tăng khói bụi, ảnh hưởng đến chất lượng không khí.
Từ thực tế đó, chuyển đổi sang nông nghiệp xanh không đơn thuần là thay một loại phân bón bằng một loại vật tư khác, mà là thay đổi cả phương thức sản xuất và tư duy của người nông dân.
Hà Nội đã triển khai nhiều cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy quá trình này. Đáng chú ý, UBND thành phố ban hành Quyết định số 6374/QĐ-UBND phê duyệt Đề án "Xây dựng mô hình ứng dụng chế phẩm sinh học trong xử lý rác thải hữu cơ sinh hoạt, phụ phẩm nông nghiệp làm phân bón cho cây trồng và xử lý ô nhiễm môi trường chăn nuôi trong các hộ nông dân, giai đoạn 2024-2028".
Cùng với đó, các cấp Hội Nông dân thành phố tổ chức nhiều lớp tập huấn, tuyên truyền, hướng dẫn nông dân thu gom, phân loại và xử lý phụ phẩm nông nghiệp bằng công nghệ sinh học, từng bước hình thành thói quen sản xuất gắn với bảo vệ môi trường.
Theo bà Phạm Hải Hoa - Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố, Chủ tịch Hội Nông dân thành phố Hà Nội, Hội tiếp tục phát huy vai trò trung tâm, nòng cốt của nông dân trong hành trình xây dựng "Nông dân giỏi - Chuyển đổi xanh - Nông nghiệp sạch - Nông dân trách nhiệm".
Bà Phạm Hải Hoa cho rằng, việc đưa chế phẩm sinh học vào sản xuất không chỉ là câu chuyện thay thế phân bón hóa học mà quan trọng hơn là tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức, phương thức sản xuất của người nông dân. Với nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân gần 900 tỷ đồng và các nguồn ủy thác khác, Hội Nông dân thành phố đang tập trung hỗ trợ liên kết sản xuất, nâng cao giá trị sản phẩm và năng lực cạnh tranh của nông sản Thủ đô.

Cán bộ, hội viên nông dân xã Phù Đổng tích cực tham gia thu gom vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật, làm sạch đẹp môi trường đồng ruộng.
Biến phụ phẩm thành tài nguyên, nâng giá trị nông sản
Tại nhiều vùng sản xuất ngoại thành như Chương Mỹ, Đan Phượng, Đông Anh, Sóc Sơn, Đại Xuyên, Phù Đổng..., việc ứng dụng chế phẩm sinh học đang từng bước thay đổi cách người dân xử lý phụ phẩm và chăm sóc cây trồng.
Thay vì đốt bỏ rơm rạ sau mỗi vụ thu hoạch, người dân có thể xử lý bằng chế phẩm vi sinh để tạo nguồn phân hữu cơ phục vụ sản xuất. Chất thải chăn nuôi cũng được thu gom, xử lý, giảm nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và tạo thêm nguồn vật chất hữu cơ cho đất.
Ông Nguyễn Xuân Hoạt, ở phường Chương Mỹ, cho biết trước đây gia đình chủ yếu sử dụng phân bón hóa học. Giá vật tư nông nghiệp tăng khiến chi phí sản xuất ngày càng cao, trong khi hiệu quả không phải lúc nào cũng tương xứng.
"Sau khi được Hội Nông dân tập huấn, gia đình ông bắt đầu sử dụng chế phẩm vi sinh để xử lý phụ phẩm nông nghiệp và chất thải chăn nuôi, qua đó giảm đáng kể lượng phân bón hóa học. Đất tơi xốp hơn, cây trồng phát triển ổn định, chi phí mua vật tư cũng giảm", ông Hoạt chia sẻ.
Thực tế cho thấy, một trong những rào cản lớn đối với quá trình chuyển đổi sang nông nghiệp hữu cơ, sinh học là tâm lý lo ngại của người dân về năng suất và thời gian thu hoạch. Tuy nhiên, khi các mô hình được triển khai và cho kết quả thực tế, nhận thức này đang từng bước thay đổi.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Cường, chuyên gia Nông nghiệp đô thị và Vi sinh hóa, phân bón hữu cơ kết hợp chế phẩm sinh học có thể góp phần cải thiện hệ sinh thái đất, thúc đẩy hoạt động của các vi sinh vật có lợi, phục hồi kết cấu đất và nâng cao khả năng sinh trưởng tự nhiên của cây trồng.
Khi đất được cải thiện, cây trồng có sức chống chịu tốt hơn, từ đó giảm áp lực sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Đây cũng là nền tảng quan trọng để phát triển mô hình nông nghiệp tuần hoàn, trong đó phụ phẩm của quá trình sản xuất được xử lý và quay trở lại làm đầu vào cho sản xuất.
Điều đáng nói, chuyển đổi xanh không chỉ mang lại lợi ích về môi trường mà còn mở ra dư địa nâng cao giá trị kinh tế cho nông sản.
Những sản phẩm được sản xuất theo hướng an toàn, hữu cơ, sinh thái có lợi thế khi tham gia các chuỗi phân phối hiện đại, hệ thống bán lẻ và thị trường yêu cầu cao về chất lượng. Khi đáp ứng được các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và quy trình sản xuất, nông sản Hà Nội sẽ có thêm cơ hội nâng cao giá trị và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Đây cũng là điểm quan trọng của phát triển nông nghiệp xanh: không chỉ giảm tác động đến môi trường mà còn phải tạo ra giá trị kinh tế đủ lớn để người nông dân có động lực duy trì phương thức sản xuất mới.
Để quá trình chuyển đổi đạt hiệu quả và có sức lan tỏa, công tác tuyên truyền, tập huấn cần tiếp tục được triển khai theo hướng thiết thực, lấy hiệu quả của từng mô hình làm cơ sở để nhân rộng. Người dân cần được hướng dẫn cụ thể từ cách xử lý phụ phẩm, sử dụng chế phẩm sinh học đến quy trình chăm sóc, thu hoạch và bảo quản nông sản.
Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ cũng cần được thiết kế theo hướng sát với nhu cầu thực tế. Việc kết nối doanh nghiệp sản xuất chế phẩm sinh học uy tín với các hợp tác xã, tổ hợp tác và hộ nông dân sẽ giúp người sản xuất tiếp cận nguồn vật tư bảo đảm chất lượng với chi phí phù hợp.
Quan trọng hơn, cần hình thành các chuỗi liên kết ổn định từ sản xuất đến tiêu thụ. Bởi nếu chỉ yêu cầu người dân thay đổi phương thức canh tác mà đầu ra sản phẩm không ổn định, giá bán không đủ bù đắp chi phí và công sức, quá trình chuyển đổi sẽ khó duy trì lâu dài.
Khi sản phẩm xanh có thị trường, người nông dân có thêm thu nhập và nhìn thấy lợi ích trực tiếp từ việc bảo vệ đất, nước và môi trường, chuyển đổi xanh sẽ không còn là một phong trào mà trở thành lựa chọn sản xuất tự nhiên.
Từ việc xử lý rơm rạ, chất thải chăn nuôi thành phân bón, giảm sử dụng hóa chất đến xây dựng các vùng sản xuất an toàn, Hà Nội đang từng bước hình thành tư duy nông nghiệp mới, trong đó hiệu quả kinh tế gắn liền với trách nhiệm môi trường.Đây không chỉ là giải pháp để nâng cao chất lượng nông sản Thủ đô mà còn góp phần xây dựng những vùng quê xanh, sạch, đáng sống, tạo nền tảng cho quá trình phát triển nông nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn và nông thôn bền vững trong những năm tới.