Hiện thực hóa khát vọng hùng cường
Bảy nghị quyết được Bộ Chính trị ban hành thời gian qua đã đánh trúng vào những vấn đề nóng, cần thiết nhất để hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, tạo dư địa phát triển mới cho nhiều năm sau.
Theo các chuyên gia, các nghị quyết này thực sự là những trụ cột chiến lược để đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.
PGS. TS Bùi Hoài Sơn (Ủy viên thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội):
Ý nghĩa của việc xác định trụ cột chiến lược

Nếu nhìn một cách hệ thống, chúng ta sẽ thấy các nghị quyết mà Bộ Chính trị ban hành thời gian qua là những trụ cột chiến lược tạo thành một chỉnh thể hoàn chỉnh để đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.
Tất cả nghị quyết cùng hướng tới đích chung: Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập sâu rộng; một xã hội phát triển, văn minh, nhân văn và một Nhà nước pháp quyền hiện đại, kiến tạo, phục vụ nhân dân.
Ở góc độ văn hóa - xã hội, càng thấy rõ ý nghĩa sâu xa của tinh thần này. Khi giáo dục được xác định là quốc sách hàng đầu, khi chăm sóc sức khỏe nhân dân trở thành ưu tiên chiến lược, khi doanh nghiệp tư nhân được khẳng định là một trong những động lực quan trọng nhất, khi thể chế được cải cách mạnh mẽ hơn, thì không chỉ kinh tế tăng trưởng, mà phẩm chất, trí tuệ, năng lực sáng tạo của con người Việt Nam cũng sẽ được đánh thức và phát huy.
Mà con người mới chính là "nguồn lực của mọi nguồn lực", là yếu tố quyết định để chúng ta hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước phát triển, phồn vinh, hạnh phúc.
Một yếu tố nữa là tính kịp thời. Các nghị quyết được ban hành đúng vào thời điểm đất nước đang đứng trước những ngã rẽ lớn: Chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng, tái cấu trúc nền kinh tế, hội nhập thế hệ mới, cạnh tranh địa - kinh tế gia tăng.
Những nghị quyết này cho thấy quyết tâm chính trị rất cao của Đảng, Nhà nước trong việc tạo ra thiết kế tổng thể để Việt Nam không chỉ phát triển nhanh, mà còn bền vững, bao trùm, nhân văn.
Nói riêng về Nghị quyết 71, đây không chỉ là một văn bản về giáo dục, mà là một tuyên ngôn về tương lai đất nước. Bởi nếu khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo là "động cơ", thì giáo dục chính là "nhiên liệu" để động cơ ấy vận hành bền bỉ.
Vấn đề đặt ra bây giờ không chỉ là làm đúng nghị quyết, mà là phải làm sao để tinh thần của nghị quyết thấm vào từng lớp học, từng cơ sở đào tạo, từng chính sách nhân lực, từng gia đình và từng người dân.
Ban hành nghị quyết chỉ là bước khởi đầu và điều cần lưu ý nhất chính là khâu tổ chức thực hiện. Nếu chỉ dừng lại ở hội nghị, báo cáo, phong trào… thì tầm nhìn chiến lược sẽ khó đi vào đời sống.
Cần những kế hoạch hành động cụ thể, có phân công trách nhiệm rõ ràng, có cơ chế giám sát độc lập, có tiêu chí đánh giá kết quả minh bạch và đặc biệt, có sự tham gia của toàn xã hội: Nhà nước, nhà trường, gia đình, doanh nghiệp và người dân.
Bà Nguyễn Thị Việt Nga (Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH Hải Phòng):
Không để "tắc" ở khâu thực thi

Việc Bộ Chính trị ban hành liên tiếp nhiều nghị quyết quan trọng thời gian qua cho thấy tầm nhìn chiến lược rất rõ ràng trong việc chuẩn bị nền tảng cho giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Các nghị quyết đều đi thẳng vào những vấn đề rất "nóng", rất cấp bách của thực tiễn, không né tránh những hạn chế đã tồn tại nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ. Tuy nhiên, từ góc nhìn thực tiễn, câu hỏi lớn nhất hiện nay là nghị quyết đi vào cuộc sống với tốc độ nào?
Sau hơn một năm triển khai, có thể thấy đã xuất hiện những chuyển động tích cực: Nhận thức của đội ngũ cán bộ được nâng lên, nhiều địa phương, bộ, ngành chủ động xây dựng chương trình hành động, tháo gỡ một số rào cản cho sản xuất, kinh doanh và đổi mới sáng tạo.
Dù vậy, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận tác động tới đời sống người dân và doanh nghiệp còn chưa tương xứng với kỳ vọng. Khoảng cách giữa tinh thần nghị quyết và thực tiễn triển khai vẫn còn khá lớn, đặc biệt ở khâu thể chế hóa thành luật, nghị định, thông tư và tổ chức thực hiện ở cơ sở.
Trong bức tranh đó, Nghị quyết về xây dựng pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng, bởi nó chính là "chìa khóa" để các nghị quyết khác phát huy hiệu quả.
Muốn nghị quyết không bị "tắc" ở khâu thực thi, cần thay đổi căn bản tư duy làm luật: Từ tư duy quản lý, kiểm soát sang tư duy kiến tạo, đồng hành. Luật pháp cần tạo không gian cho sáng tạo, cho thử nghiệm, thay vì cố gắng "quản cho chặt" mọi tình huống có thể xảy ra.
Một thực tế đáng nói là không ít trường hợp, nghị quyết của Đảng rất mở, nhưng khi xuống đến khâu văn bản dưới luật lại bị "bó hẹp" bởi tâm lý sợ rủi ro, sợ trách nhiệm. Điều này không chỉ làm chậm quá trình đổi mới, mà còn bào mòn niềm tin của xã hội vào năng lực thể chế.
Để tháo gỡ, cần đồng thời thực hiện hai nhóm giải pháp. Một là hoàn thiện khung pháp lý bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, có động cơ trong sáng, thực hiện đúng chủ trương.
Hai là nâng cao tính minh bạch, chuẩn hóa quy trình ra quyết định, để mọi hành động đều có "vết pháp lý" rõ ràng, giảm rủi ro cá nhân cho người thực thi.
Trong giai đoạn bản lề này, mỗi sự chậm trễ đều có thể khiến đất nước bỏ lỡ cơ hội, còn mỗi bước đi quyết liệt, đúng hướng sẽ tạo ra dư địa phát triển mới cho nhiều năm sau. Đây chính là phép thử lớn đối với hệ thống thể chế và đội ngũ cán bộ của chúng ta.
TS Nguyễn Sĩ Dũng (Ủy viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng):
Đẩy nhanh hơn quá trình thể chế hóa

Kể từ khi Nghị quyết 68 được ban hành, quá trình triển khai đã tạo ra một số chuyển biến đáng kể. Chính phủ đã nhanh chóng ban hành kế hoạch hành động, phân công rõ nhiệm vụ cho từng bộ, ngành, địa phương và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư - kinh doanh theo hướng minh bạch, thuận lợi hơn.
Việc áp dụng nguyên tắc "6 rõ", đẩy mạnh số hóa thủ tục hành chính, chuẩn hóa quy trình cấp phép, kiểm tra và kết nối dữ liệu đã giúp giảm đáng kể chi phí tuân thủ và tăng niềm tin của doanh nghiệp.
Không ít địa phương đã chủ động rà soát điểm nghẽn pháp lý, cải thiện Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp sở, ban, ngành và địa phương, đồng thời hình thành các mô hình hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo.
Qua đó, thúc đẩy khu vực tư nhân phục hồi mạnh mẽ sau giai đoạn khó khăn, gia tăng đóng góp vào sản xuất, xuất khẩu và ngân sách.
Tuy nhiên, độ trễ chính sách vẫn còn lớn: Việc thể chế hóa một số nội dung quan trọng của nghị quyết diễn ra chậm; chất lượng phối hợp liên ngành chưa đồng đều; nhiều địa phương vẫn tồn tại tâm lý e ngại trách nhiệm khi xử lý hồ sơ, dẫn tới sự khác biệt đáng kể trong tốc độ triển khai giữa các vùng.
Khu vực tư nhân vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận đất đai, tín dụng dài hạn và các cơ chế hỗ trợ đổi mới công nghệ trong khi các lĩnh vực ưu tiên như kinh tế số, kinh tế xanh hay kinh tế tuần hoàn chưa được hướng dẫn đủ rõ để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư.
Để nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống, cần có bước chuyển mạnh từ "chỉ đạo" sang "tổ chức thực thi".
Trước hết, phải đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện thể chế, bảo đảm các luật, nghị định và thông tư liên quan được sửa đổi thống nhất, loại bỏ chồng chéo. Cùng đó, cần thiết lập cơ chế giám sát độc lập và minh bạch tiến độ thực hiện ở từng cấp, đặc biệt là trách nhiệm người đứng đầu.
Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị Nhà nước, kết nối dữ liệu liên thông giữa các bộ - ngành - địa phương để rút ngắn thời gian xử lý thủ tục.
Cuối cùng, phải phát triển mạnh hạ tầng hỗ trợ doanh nghiệp từ hạ tầng số, logistics đến tài chính để khu vực tư nhân có "không gian và điều kiện" thực sự vươn lên, đúng tinh thần Nghị quyết 68.
TS Nguyễn Quốc Việt (chuyên gia chính sách Công, Trường đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội):
Khoa học công nghệ phải là động lực tăng trưởng

Nghị quyết 57 đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển của Việt Nam, khi lần đầu tiên khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác lập là động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới.
Sau một thời gian triển khai, Nghị quyết đã tạo ra những chuyển động bước đầu đáng ghi nhận, song cũng đặt ra yêu cầu phải hành động quyết liệt, đồng bộ và thực chất hơn.
Trước hết, Nghị quyết 57 góp phần thay đổi tư duy phát triển ở cả Trung ương và địa phương. Mô hình tăng trưởng dựa vào vốn, tài nguyên và lao động giá rẻ từng bước được nhìn nhận không còn phù hợp. Thay vào đó là yêu cầu tái định vị nền kinh tế dựa trên tri thức, công nghệ và năng suất.
Nhiều địa phương đã chủ động đưa khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo vào nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội, coi đây là trụ cột cho các ngành mũi nhọn như kinh tế biển, năng lượng tái tạo, du lịch thông minh hay nông nghiệp công nghệ cao.
Tuy nhiên, những kết quả trên chủ yếu dừng ở "điều kiện cần". Thực tế cho thấy, nhiều rào cản thể chế vẫn khiến khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự trở thành động lực tăng trưởng.
Cơ chế chính sách còn thiếu tính thử nghiệm, thiếu dư địa cho sáng tạo; tư duy quản lý hành chính vẫn nặng kiểm soát hơn là kiến tạo; thị trường khoa học - công nghệ phát triển chậm, chưa kết nối hiệu quả giữa nghiên cứu, doanh nghiệp và vốn đầu tư.
Để Nghị quyết 57 được triển khai quyết liệt và hiệu quả hơn, trước hết cần đột phá mạnh mẽ về thể chế; cho phép thử nghiệm chính sách mới, mô hình kinh doanh mới trong các lĩnh vực thế mạnh của từng địa phương.
Thứ hai, cần tập trung hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực chất. Điều này đòi hỏi tăng cường liên kết "ba nhà", trong đó doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm đặt hàng nghiên cứu và phát triển (R&D), Nhà nước chia sẻ rủi ro và tạo khung chính sách, còn trường - viện trở thành nguồn cung tri thức.
Thứ ba, đầu tư hạ tầng số và dữ liệu dùng chung phải được tiếp cận ở quy mô vùng, thay vì manh mún theo từng địa phương. Dữ liệu cần được coi là tài sản chung phục vụ quản trị, dự báo và ra quyết định dựa trên bằng chứng.
Cuối cùng, đào tạo kỹ năng số, bồi dưỡng năng lực chuyển đổi số cho đội ngũ cán bộ và chính sách thu hút nhân tài phải được triển khai đồng bộ, gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện.
TS Võ Thành Phong (Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương):
Thay đổi tư duy về chính sách năng lượng

Nghị quyết 70 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy chính sách năng lượng của Việt Nam.
So với Nghị quyết 55 và các chiến lược trước đây vốn thiên về quy hoạch và bảo đảm cung ứng, Nghị quyết 70 đặt trọng tâm vào "chuyển dịch năng lượng kép": Vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa thúc đẩy xanh hóa hệ thống năng lượng, gắn với cam kết Net Zero và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Nghị quyết 70 tạo ra khung mục tiêu rõ ràng, đồng bộ và cập nhật hơn; chuyển trọng tâm từ "có đủ điện" sang "an ninh năng lượng bền vững", nhấn mạnh khả năng chống chịu trước biến động địa chính trị, giá nhiên liệu và khủng hoảng năng lượng toàn cầu.
Nghị quyết cũng mở đường cho huy động nguồn lực xã hội quy mô lớn, không chỉ giúp giảm áp lực đầu tư công mà còn tạo điều kiện để Việt Nam tiếp cận công nghệ hiện đại, thúc đẩy số hóa hệ thống năng lượng và hội nhập sâu vào chuỗi giá trị năng lượng sạch toàn cầu.
Ngoài ra, nghị quyết tạo cơ sở để khai thác hiệu quả các lợi thế chiến lược của Việt Nam, từ tiềm năng năng lượng tái tạo dồi dào, sự phát triển nhanh của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI), đến vai trò ngày càng lớn của khu vực tư nhân và cộng đồng địa phương...
Song, để Nghị quyết 70 thực sự đi vào cuộc sống, yêu cầu đặt ra là phải hành động quyết liệt hơn trên một số trụ cột then chốt.
Trước hết là đột phá về hạ tầng, đặc biệt là lưới điện truyền tải và hệ thống lưu trữ năng lượng. Nếu không giải quyết triệt để nút thắt này, rủi ro cắt giảm công suất và gián đoạn sản xuất sẽ tiếp tục làm xói mòn niềm tin của nhà đầu tư.
Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa nguồn năng lượng, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch là nền tảng để bảo đảm an ninh năng lượng gắn với phát triển xanh.
Trên cơ sở đó, cần đẩy mạnh đầu tư khoa học - công nghệ, ứng dụng AI, IoT, công nghệ lưu trữ và lưới điện thông minh nhằm nâng cao hiệu quả hệ thống và tích hợp năng lượng tái tạo.
Trong năm 2024 và 2025, Bộ Chính trị ban hành 7 nghị quyết có ý nghĩa chiến lược trên hầu hết các lĩnh vực then chốt của đất nước. Cụ thể:
- Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (ngày 22/12/2024).
- Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới (ngày 24/1/2025).
- Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (ngày 30/4/2025).
- Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân (ngày 4/5/2025).
- Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (ngày 20/8/2025).
- Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (ngày 22/8/2025).
- Nghị quyết số 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân (ngày 9/9/2025).