Văn hóa

Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Đột phá ở tư duy, thành bại ở chất lượng thực thi

-

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Dự thảo hướng tới hình thành hệ sinh thái từ sáng tạo, nhân lực, tài sản trí tuệ đến vốn và thị trường. Trong đó, Nhà nước tạo vốn mồi để kích hoạt nguồn lực xã hội, đưa văn hóa thành ngành kinh tế.

Trao đổi phỏng vấn với Báo Xây dựng, PGS.TS Bùi Hoài Sơn đã chỉ ra, Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là bước đầu kết nối những mắt xích vốn rời rạc, từ người sáng tạo, đào tạo nhân lực, tài sản trí tuệ, hạ tầng, nguồn vốn, doanh nghiệp đến thị trường, qua đó hình thành một hệ sinh thái có khả năng tự tạo và gia tăng giá trị.

Trong cấu trúc đó, tài sản trí tuệ không chỉ được nhìn nhận là quyền cần bảo hộ, mà phải trở thành một loại tài sản có thể định giá, góp vốn, làm tài sản bảo đảm và tiếp tục tạo dòng tiền thông qua chuyển thể, cấp phép, nhượng quyền, hàng hóa phái sinh hay xuất khẩu. Nhà nước không làm thay thị trường mà sử dụng nguồn lực công như "vốn mồi", dẫn dắt và kích hoạt nguồn lực xã hội, đồng thời chấp nhận rủi ro thị trường trong một khuôn khổ minh bạch, có tiêu chí và trách nhiệm giải trình.

Cùng với dòng vốn, nguồn nhân lực cũng phải được tổ chức lại theo nhu cầu thực tế, tăng đào tạo liên ngành và gắn nhà trường với doanh nghiệp, nghệ sĩ, chuyên gia. Mục tiêu cuối cùng không phải Nhà nước chi thêm bao nhiêu cho văn hóa, mà là mỗi đồng vốn công khơi thông được bao nhiêu nguồn lực xã hội, tạo ra bao nhiêu tài sản trí tuệ và mở rộng bao nhiêu thị trường cho sản phẩm văn hóa Việt Nam.

Để tài sản trí tuệ không chỉ có giá trị trên giấy

Kính thưa PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, một trong những điểm đột phá của Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là lần đầu đề xuất cơ chế để tài sản trí tuệ có thể được định giá, góp vốn và tham gia các giao dịch tài chính. Ông đánh giá, vì sao nhiều năm qua, tài sản trí tuệ đã tạo ra giá trị kinh tế nhưng lại khó chuyển hóa thành nguồn lực tài chính?

Tôi cho rằng đây là một trong những điểm đột phá đáng chú ý nhất của dự thảo luật, chạm đúng nghịch lý tồn tại khá lâu trong các ngành công nghiệp văn hóa. 

img

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội. (Ảnh: NVCC).

Một bộ phim có thể tạo doanh thu hàng trăm tỷ đồng, một bài hát có thể được khai thác nhiều năm, một nhân vật hoạt hình, một trò chơi điện tử, một thiết kế hay một định dạng chương trình có thể trở thành nguồn thu rất lớn. 

Nhưng khi chủ sở hữu những tài sản đó đến ngân hàng để vay vốn, giá trị ấy khó được nhìn nhận tương tự như một mảnh đất, nhà xưởng hay máy móc.

Nguyên nhân trước hết nằm ở đặc tính của tài sản trí tuệ. Giá trị của nó không nằm ở hình hài vật chất mà nằm ở quyền khai thác và khả năng tạo ra dòng tiền trong tương lai. Tính biến động ấy khiến việc định giá khó hơn rất nhiều so với tài sản hữu hình.

Bên cạnh đó, chúng ta còn thiếu một hệ sinh thái hỗ trợ cho thị trường tài sản trí tuệ: dữ liệu về các giao dịch tương đồng chưa đầy đủ; năng lực thẩm định giá chuyên sâu còn hạn chế; chuỗi quyền sở hữu trong một số sản phẩm chưa được chuẩn hóa; thị trường mua bán, chuyển nhượng quyền chưa phát triển; còn thiếu cơ chế xử lý tài sản khi khoản vay gặp rủi ro. 

Trong khi đó, ngân hàng phải chịu trách nhiệm về an toàn vốn nên đương nhiên có xu hướng ưu tiên những tài sản dễ xác định giá trị và dễ thanh khoản.

Tôi đặc biệt đánh giá cao việc dự thảo không chỉ dừng ở việc nói tài sản trí tuệ "có giá trị", mà đã đi xa hơn khi đề xuất hồ sơ tài sản trí tuệ dưới dạng số, cơ chế định giá, dữ liệu giá giao dịch, cho phép tài sản trí tuệ được sử dụng để góp vốn, làm tài sản bảo đảm trong quan hệ tín dụng, đồng thời đặt vấn đề về bảo lãnh và chia sẻ rủi ro. 

Nếu làm được điều này, chúng ta thực sự đang chuyển từ tư duy bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sang tư duy cao hơn là biến sở hữu trí tuệ thành tài sản phát triển.

Theo ông, để quy định về định giá và thương mại hóa tài sản trí tuệ có thể đi vào thực tiễn, dự án luật cần lưu ý thêm điều gì?

Theo thôi, luật đã mở được cánh cửa, nhưng để doanh nghiệp và ngân hàng bước qua được cánh cửa đó, chúng ta phải xây dựng cả một "hạ tầng mềm" phía sau. 

Nếu chỉ quy định rằng tài sản trí tuệ được định giá, được góp vốn hay được dùng làm tài sản bảo đảm mà không có phương pháp định giá, dữ liệu tham chiếu, cơ chế kiểm soát rủi ro và thị trường thứ cấp thì quy định rất dễ đúng về mặt nguyên tắc nhưng khó vận hành trong thực tế.

Dự thảo đã đặt vấn đề xây dựng phương pháp, chuẩn, tiêu chuẩn và cơ sở dữ liệu phục vụ định giá; đào tạo đội ngũ thẩm định viên, chuyên gia sở hữu trí tuệ, luật sư, kiểm toán viên, chuyên gia tài chính và tổ chức tín dụng; xây dựng dữ liệu về giá giao dịch làm căn cứ tham chiếu. 

Đặc biệt, dự thảo còn dự kiến cơ chế bảo vệ người thẩm định đã làm đúng chuẩn nghề nghiệp, trung thực, khách quan trước những thiệt hại phát sinh đơn thuần từ biến động thị trường. 

Đây là cách tiếp cận cần thiết. Nếu chúng ta yêu cầu người thực thi phải đổi mới nhưng lại để họ chịu toàn bộ rủi ro của những biến động khách quan, cuối cùng không ai dám định giá những tài sản mới.

Song, cần làm rõ thêm ba tầng vấn đề. Thứ nhất là chuẩn hóa pháp lý của tài sản: ai sở hữu, quyền nào được giao dịch, phạm vi và thời hạn khai thác ra sao, có tranh chấp hay không. 

Thứ hai là chuẩn hóa việc định giá. Không nên kỳ vọng có một công thức duy nhất cho mọi tài sản mà cần những phương pháp phù hợp với từng loại hình, dựa trên chi phí hình thành, dòng tiền kỳ vọng, giao dịch so sánh, vòng đời khai thác và tiềm năng phát triển tài sản phái sinh. 

Thứ ba là xây dựng cơ chế xử lý rủi ro và thanh khoản. Ngân hàng không chỉ quan tâm tài sản trị giá bao nhiêu mà còn quan tâm nếu khách hàng không trả được nợ thì tài sản ấy có thể chuyển nhượng cho ai và bằng cách nào.

Vì vậy, sự tham gia của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng là đặc biệt quan trọng. 

Dự thảo đã giao định hướng xây dựng cơ chế quản lý rủi ro đối với tín dụng có tài sản bảo đảm là tài sản trí tuệ. Tôi mong muốn sau này có thể hình thành các sản phẩm tín dụng chuyên biệt cho công nghiệp văn hóa, quỹ bảo lãnh, bảo hiểm rủi ro, sàn giao dịch quyền và một thị trường thứ cấp đủ minh bạch. 

Khi đó, ngân hàng cho vay không phải vì được yêu cầu phải hỗ trợ văn hóa, mà vì họ nhìn thấy một loại tài sản thực sự có khả năng sinh lời và quản trị được rủi ro.

img

5 nhóm chính sách dự kiến của Dự án Luật phát triển công nghiệp văn hoá.

Nếu cơ chế này được triển khai hiệu quả, ông kỳ vọng quy định có thể tạo ra thay đổi như thế nào đối với ngành công nghiệp văn hóa?

Thay đổi lớn nhất là có thể làm thay đổi cấu trúc vốn của cả ngành công nghiệp văn hóa. Hiện nay, nhiều người sáng tạo có ý tưởng tốt, có tài sản trí tuệ nhưng không có tài sản hữu hình để thế chấp. 

Nếu một kịch bản, một bản quyền âm nhạc, một format chương trình, một nhân vật, một game hay một thương hiệu sáng tạo được nhận diện, định giá và khai thác như một tài sản, người sáng tạo sẽ có thêm con đường để huy động vốn mà không nhất thiết phải bán đứt quyền sở hữu của mình.

Điều quan trọng hơn là cơ chế này sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp thay đổi từ tư duy làm từng sản phẩm sang tư duy xây dựng IP - tài sản trí tuệ có vòng đời dài. 

Tài sản trí tuệ có thể tiếp tục tạo giá trị qua chuyển thể, nhượng quyền, cấp phép, hàng hóa phái sinh, trò chơi, biểu diễn, quảng cáo, du lịch và xuất khẩu. Khi đó, giá trị kinh tế của sáng tạo được nhân lên theo cấp số nhân.

Tôi đặc biệt kỳ vọng cơ chế này tạo cơ hội cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, startup sáng tạo và những người sáng tạo độc lập. Đây là nhóm thường có tài sản lớn nhất là ý tưởng, tài năng và quyền sở hữu trí tuệ nhưng lại khó tiếp cận nguồn vốn nhất. 

Khi "trí tuệ" thực sự trở thành "tài sản", chúng ta sẽ hình thành một môi trường trong đó người sáng tạo có thể sống tốt hơn bằng sáng tạo, doanh nghiệp có động lực đầu tư vào nội dung gốc Việt Nam và nhà đầu tư có thêm một lớp tài sản mới để tham gia thị trường. 

Đó là nền móng quan trọng để Việt Nam từng bước hình thành những thương hiệu, nhân vật, câu chuyện và sản phẩm văn hóa có khả năng cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

Đầu tư công nghiệp văn hóa: Không để vốn nhà nước thay thị trường

Dự thảo lần đầu đề xuất cơ chế Nhà nước cùng góp vốn hoặc chia sẻ rủi ro với khu vực tư nhân để phát triển các sản phẩm, tài sản trí tuệ trọng điểm. Theo ông, vì sao cần có cơ chế này và nó khác gì so với các chính sách hỗ trợ trước đây?

Công nghiệp văn hóa có đặc điểm rất khác với nhiều ngành kinh tế truyền thống: rủi ro ban đầu cao nhưng nếu thành công, khả năng tạo giá trị và sức lan tỏa có thể rất lớn. 

Không ai có thể chắc chắn một bộ phim trước khi sản xuất sẽ có bao nhiêu người xem, một trò chơi có trở thành hiện tượng hay không, một sản phẩm thiết kế có tạo nên xu hướng hay một nhân vật hoạt hình có trở thành thương hiệu quốc tế. 

Vì thế, vốn tư nhân thường có xu hướng tìm đến những công thức đã thành công. Trong khi các dự án sáng tạo mới, có tính thử nghiệm cao nhưng có ý nghĩa đối với bản sắc và sức mạnh mềm quốc gia lại khó huy động vốn.

Trong trường hợp ấy, nhà nước cần đóng vai trò "vốn mồi", vốn dẫn dắt, chứ không phải thay thị trường làm thị trường. 

Đây là khác biệt căn bản so với cách hỗ trợ truyền thống. Nếu trước đây nhà nước chủ yếu cấp kinh phí, tài trợ hoặc đặt hàng và khi khoản ngân sách được chi ra thì về cơ bản kết thúc ở đó, thì cơ chế đồng đầu tư là nhà nước và tư nhân cùng lựa chọn dự án, cùng bỏ vốn, cùng chia sẻ rủi ro. Khi dự án thành công, nhà nước có thể thu hồi vốn và phần lợi ích để tái đầu tư cho những dự án khác.

Dự thảo xác định đồng đầu tư có thể được thực hiện đối với tài sản sở hữu trí tuệ gốc trọng điểm, sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm và sản phẩm có hàm lượng bản sắc Việt Nam cao; các hình thức có thể gồm vốn đối ứng, đầu tư thông qua quỹ, mua cổ phần hoặc phần vốn góp, chia sẻ rủi ro hay chia sẻ doanh thu theo hợp đồng. 

Đây là sự chuyển đổi tư duy từ nhà nước tài trợ cho văn hóa sang nhà nước đầu tư cho sự phát triển của văn hóa, đồng thời sử dụng nguồn lực công để kích hoạt những nguồn lực lớn hơn của xã hội.

img

Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được xác định là bước đi cấp thiết nhằm chuyển sức mạnh văn hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia.

Một trong những điểm nghẽn của công nghiệp văn hóa là doanh nghiệp có nhu cầu khai thác không gian công cộng, tài sản công và giá trị kinh tế từ di sản nhưng phải đối mặt với thủ tục, thẩm quyền và cơ chế khai thác chưa rõ. Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang tháo gỡ bài toán này như thế nào, và làm sao để việc huy động nguồn lực xã hội không biến thành thương mại hóa di sản?

Dự thảo đã nhận đúng vấn đề và mở được một số cánh cửa quan trọng, nhưng đây cũng là một trong những nội dung cần tiếp tục hoàn thiện mạnh hơn nếu muốn luật thực sự đi vào cuộc sống. 

Dự thảo hiện đã trao cho UBND cấp tỉnh thẩm quyền xác định và công bố các tuyến đường, quảng trường, công viên, không gian công cộng có thể sử dụng cho biểu diễn, trưng bày, giới thiệu sản phẩm văn hóa; đồng thời hướng tới thủ tục đơn giản, thực hiện qua môi trường mạng và cho phép địa phương quy định miễn, giảm chi phí sử dụng. 

Đây là bước tiến quan trọng so với tình trạng doanh nghiệp phải đi tìm từng cơ quan để hỏi một không gian được sử dụng hay không và ai có quyền quyết định.

Tuy nhiên, tôi nghĩ cần phân biệt rất rõ giữa định giá di sản với định giá quyền khai thác một phần giá trị kinh tế phát sinh từ di sản. 

Di sản, nhất là những di sản thuộc sở hữu toàn dân, không thể giản đơn đem quy đổi thành một khoản vốn như đất đai hay cổ phiếu. Điều có thể định giá là quyền khai thác trong một khoảng thời gian, một không gian và một mục đích cụ thể: quyền tổ chức sự kiện, khai thác hình ảnh, phát triển sản phẩm phái sinh, dịch vụ tham quan, không gian thương mại phù hợp hoặc những quyền kinh tế hợp pháp khác. 

Cách tiếp cận này vừa giúp huy động nguồn lực xã hội vừa tránh tư duy "thương mại hóa di sản bằng mọi giá".

Vì thế, tôi đề nghị dự thảo hoặc văn bản hướng dẫn sau này cần hình thành một khung thống nhất về khai thác tài sản văn hóa công, gồm phương pháp xác định giá trị quyền khai thác; nguyên tắc lựa chọn nhà đầu tư; thời hạn khai thác; cơ chế chia sẻ doanh thu; trách nhiệm bảo tồn; chỉ số đánh giá tác động tới di sản và cộng đồng; quyền chấm dứt hợp đồng khi giá trị di sản bị đe dọa. 

Đối với những tài sản, không gian có tính khan hiếm và giá trị thương mại cao, việc lựa chọn đối tác phải bảo đảm cạnh tranh, công khai.

Một vấn đề nữa là thẩm quyền. Khi doanh nghiệp muốn tổ chức một dự án sáng tạo trong công viên, nhà ga cũ, nhà máy cũ hay công trình công cộng, họ không thể mất nhiều tháng chỉ để xác định ai là người được phép quyết định. 

Theo tôi, cần tiến tới cơ chế một đầu mối chịu trách nhiệm, đi đôi với phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương và thời hạn xử lý rõ ràng. 

Dự thảo đã có tinh thần phân cấp giữa cấp tỉnh và cấp xã trong quản lý không gian công cộng; vấn đề còn lại là làm rõ ranh giới thẩm quyền và sự liên thông với pháp luật về tài sản công, đất đai, di sản, đầu tư và PPP.

Xa hơn nữa, tôi nghĩ có thể nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với một số mô hình hợp tác khai thác di sản, không gian công cộng và thiết chế văn hóa. 

Công nghiệp văn hóa phát triển rất nhanh, trong khi các mô hình hợp tác truyền thống không phải lúc nào cũng phù hợp. Điều chúng ta cần không phải là buông lỏng quản lý mà là quản lý theo mục tiêu và kết quả, trao quyền thử nghiệm nhưng xác định rõ "lằn ranh đỏ" về bảo tồn di sản, lợi ích công cộng, an ninh, môi trường và quyền tiếp cận văn hóa của người dân.

Một trong những băn khoăn hiện nay là làm thế nào để cơ chế đồng đầu tư vừa tạo động lực cho doanh nghiệp, vừa tránh tình trạng xin - cho hoặc đầu tư dàn trải. Theo ông, đâu là nguyên tắc quan trọng nhất khi thiết kế chính sách này?

Theo tôi, nguyên tắc quan trọng nhất là nhà nước phải đầu tư theo tiêu chí, kết quả và cơ chế thị trường, chứ không đầu tư theo quan hệ hay theo đề xuất hành chính đơn thuần. 

Cơ chế càng mới, dư địa chính sách càng lớn, yêu cầu về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình càng phải cao.

Trước hết phải có bộ tiêu chí rõ ràng: dự án giải quyết vấn đề gì của thị trường, có giá trị văn hóa và xã hội ra sao, có khả năng hình thành tài sản trí tuệ gốc hay không, có tiềm năng thương mại và xuất khẩu hay không, khu vực tư nhân sẵn sàng bỏ bao nhiêu vốn và chịu bao nhiêu rủi ro.

Một nguyên tắc quan trọng nữa là vốn công phải kéo được vốn tư vào, chứ không phải vốn công thay thế vốn tư. Một dự án mà chỉ hấp dẫn khi nhà nước chịu phần lớn rủi ro, trong khi lợi ích chủ yếu thuộc về doanh nghiệp thì đó không phải là đồng đầu tư đúng nghĩa.

Thứ hai, cần có hội đồng lựa chọn độc lập với sự tham gia của chuyên gia văn hóa, công nghệ, tài chính, sở hữu trí tuệ và thị trường; công khai tiêu chí, kết quả lựa chọn, tỷ lệ vốn góp và cơ chế chia sẻ lợi ích.

Phải quy định rõ xung đột lợi ích, kiểm toán, giao dịch với bên liên quan và cơ chế thu hồi hỗ trợ khi doanh nghiệp vi phạm cam kết. Chính dự thảo cũng đã nhấn mạnh nguyên tắc chia sẻ rủi ro, chia sẻ lợi ích, công khai, minh bạch, cạnh tranh và không làm thay chức năng của thị trường.

Cuối cùng, phải chấp nhận đặc thù của đầu tư sáng tạo là không phải dự án nào thất bại về thương mại cũng đồng nghĩa với thất thoát hay sai phạm.

Nếu mọi dự án dùng nguồn lực nhà nước đều buộc phải thành công, sẽ không ai dám đầu tư cho sáng tạo thực sự. Điều cần kiểm soát là quy trình lựa chọn, tính trung thực, minh bạch và trách nhiệm của người quyết định. Rủi ro thị trường đã được nhận diện và quản trị đúng quy trình phải được nhìn nhận như một phần tự nhiên của hoạt động đầu tư.

Có như vậy mới vừa chống được xin - cho, lợi ích nhóm, vừa bảo vệ được những người dám lựa chọn những dự án mới.

img
img
img

Phát triển công nghiệp văn hóa được xác định là động lực tăng trưởng mới, chuyển sức mạnh văn hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia.

Nếu Luật được ban hành và thực thi hiệu quả, ông kỳ vọng nguồn lực xã hội có thể đóng vai trò như thế nào trong quá trình phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam?

Nguồn lực nhà nước rất quan trọng nhưng không bao giờ có thể và cũng không nên là nguồn lực duy nhất cho công nghiệp văn hóa. 

Sức sống của công nghiệp văn hóa nằm ở hàng triệu con người sáng tạo, doanh nghiệp, nghệ sĩ, nhà đầu tư, cộng đồng, trường đại học và thị trường. Vai trò của nhà nước là kiến tạo môi trường thuận lợi, đầu tư cho những hạ tầng nền tảng mà thị trường khó tự làm, dẫn dắt ở những lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược và dùng nguồn lực công để kích hoạt nguồn lực xã hội.

Khi luật pháp đủ minh bạch và lợi ích đủ rõ ràng, tôi tin nguồn vốn xã hội dành cho văn hóa sẽ lớn hơn rất nhiều. 

Doanh nghiệp đầu tư vào văn hóa không chỉ vì trách nhiệm xã hội mà còn vì nhìn thấy thị trường, thương hiệu và cơ hội kinh doanh.

Dự thảo hiện đã xác định việc huy động nguồn lực từ nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân, quỹ và các hình thức đầu tư hợp pháp; đồng thời dành cơ chế cho đồng đầu tư, PPP, phát triển hạ tầng, sản phẩm trọng điểm và tài sản trí tuệ. 

Theo tôi, thành công lớn nhất của luật không phải là nhà nước chi thêm bao nhiêu tiền cho công nghiệp văn hóa, mà là mỗi đồng vốn nhà nước có thể khơi thông được bao nhiêu đồng vốn xã hội, tạo ra bao nhiêu tài sản trí tuệ mới và mở rộng được bao nhiêu thị trường cho sản phẩm văn hóa Việt Nam.

Công nghiệp văn hóa cần nhân lực vượt khỏi một chuyên ngành

Dự thảo cũng lần đầu quy định xây dựng khung năng lực nhân lực công nghiệp văn hóa. Ông đánh giá quy định này có ý nghĩa như thế nào trong việc chuẩn hóa đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho ngành?

Tôi đánh giá rất cao quy định này. Trong nhiều năm, chúng ta nói nhiều đến thiếu nhân lực công nghiệp văn hóa, nhưng nếu hỏi cụ thể ngành đang cần những vị trí nào, mỗi vị trí cần năng lực gì, trình độ nào, kỹ năng nào thì câu trả lời chưa thực sự rõ ràng. 

Không có một "ngôn ngữ chung" về năng lực thì cơ sở đào tạo khó biết phải đào tạo gì, doanh nghiệp khó tuyển đúng người, người học cũng khó hình dung mình phải chuẩn bị những năng lực nào.

Dự thảo xác định khung năng lực nhân lực công nghiệp văn hóa là khung tham chiếu chuyên ngành, xác định yêu cầu đối với từng nhóm nhân lực, vị trí việc làm và cấp độ năng lực, đồng thời phải phù hợp với khung trình độ quốc gia Việt Nam và tham khảo các chuẩn quốc tế. 

Nếu triển khai tốt, đây sẽ là chiếc cầu nối rất quan trọng giữa giáo dục - thị trường lao động - doanh nghiệp - người làm nghề.

Công nghiệp văn hóa cần một kiểu nhân lực khác với cách chúng ta vẫn hình dung về nhân lực văn hóa truyền thống. 

Một nhà sản xuất phim không chỉ cần hiểu nghệ thuật mà còn phải hiểu tài chính, thị trường, công nghệ, bản quyền và quản trị dự án. Một người làm bảo tàng hôm nay có thể cần hiểu dữ liệu, trải nghiệm số và phát triển công chúng. Một nhà thiết kế cần hiểu thương hiệu và thương mại điện tử. Một nghệ sĩ độc lập cũng cần biết quản lý quyền sở hữu trí tuệ và xây dựng thương hiệu cá nhân.

Vì thế, khung năng lực chỉ thực sự có giá trị nếu được xây dựng theo tinh thần liên ngành, linh hoạt và cập nhật liên tục, không trở thành thêm một bộ tiêu chuẩn hành chính cứng nhắc. Công nghệ, AI và các mô hình kinh doanh đang thay đổi rất nhanh, nếu khung năng lực mất nhiều năm mới điều chỉnh một lần thì khi ban hành đã có thể lạc hậu.

Hiện nay nhiều doanh nghiệp cho rằng sinh viên ra trường còn khoảng cách khá lớn so với yêu cầu thực tế của thị trường. Theo ông, đâu là nguyên nhân của tình trạng này?

Khoảng cách ấy có thật và nguyên nhân không nằm ở riêng sinh viên hay nhà trường mà nằm trong cả hệ sinh thái đào tạo. 

Trong thời gian khá dài, chúng ta đào tạo văn hóa, nghệ thuật theo từng chuyên môn tương đối khép kín, trong khi thị trường công nghiệp văn hóa lại đòi hỏi năng lực liên ngành. Nhà trường dạy một ngành, còn doanh nghiệp cần một con người có thể kết nối nhiều ngành.

Bên cạnh đó, tốc độ thay đổi của thị trường nhanh hơn tốc độ điều chỉnh chương trình đào tạo. Công nghệ số, nền tảng, AI, kinh tế người sáng tạo, thương mại điện tử, quản trị tài sản trí tuệ đang thay đổi cách sản phẩm văn hóa được sáng tạo, sản xuất và phân phối. 

Nếu người học chỉ được trang bị kỹ năng chuyên môn mà thiếu quản trị dự án, bản quyền, marketing số, dữ liệu, ngoại ngữ, kỹ năng kinh doanh và hiểu biết thị trường, rất khó tham gia đầy đủ vào chuỗi giá trị.

Cùng với đó, mối liên hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp chưa đủ sâu. Doanh nghiệp thường chỉ xuất hiện ở khâu tiếp nhận sinh viên thực tập hoặc tuyển dụng cuối cùng. Trong khi đáng ra họ phải tham gia từ đầu vào việc xây dựng chuẩn đầu ra, chương trình học, giảng dạy, cung cấp dự án thực tế và đánh giá người học. 

Ngược lại, các nghệ sĩ, nghệ nhân, nhà sản xuất giỏi trong thực tiễn đôi khi lại gặp những rào cản về bằng cấp hoặc thủ tục để tham gia đào tạo chính quy.

Chúng ta cần thay đổi quan niệm về một "tấm bằng hoàn chỉnh". Trong công nghiệp văn hóa, một người có thể phải học suốt đời, liên tục bổ sung các chứng chỉ và kỹ năng mới. 

Vì vậy, cần phát triển mạnh mô hình đào tạo ngắn hạn, chứng chỉ nghề nghiệp, micro-credentials, công nhận kỹ năng tích lũy từ thực tế và tạo điều kiện để người lao động thường xuyên quay trở lại hệ thống giáo dục. 

Dự thảo đã tiếp cận theo hướng chương trình đào tạo mở, liên thông, đào tạo tại doanh nghiệp và công nhận một số kết quả học tập từ các khóa đào tạo kỹ năng tương đương, đây là hướng đi rất đáng khuyến khích.

Theo ông, những giải pháp này có thể tạo ra thay đổi gì trong chất lượng nguồn nhân lực thời gian tới?

Tôi kỳ vọng đây sẽ là một thay đổi căn bản, bởi đào tạo công nghiệp văn hóa không thể chỉ diễn ra trong giảng đường. Studio, nhà hát, hãng phim, công ty thiết kế, doanh nghiệp game, bảo tàng, không gian sáng tạo và thậm chí một dự án lễ hội đều phải trở thành những "phòng học mở" của sinh viên.

Dự thảo đã đề xuất nhiều cơ chế khá mạnh như cho phép cơ sở đào tạo hợp tác với doanh nghiệp, nghệ sĩ, nghệ nhân, chuyên gia tham gia giảng dạy; khuyến khích đào tạo liên ngành; cho phép đào tạo thực hành tại doanh nghiệp; thống kê tỷ lệ sinh viên có việc làm và mức độ đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp; đồng thời tạo cơ chế để nghệ sĩ, nghệ nhân đủ điều kiện tham gia giảng dạy. 

Đây là những quy định có thể giúp phá vỡ ranh giới khá cứng giữa "người dạy" và "người làm nghề", giữa nhà trường với thị trường lao động.

Xa hơn nữa chúng ta nên hướng tới mô hình doanh nghiệp đồng đào tạo. Doanh nghiệp không chỉ tiếp nhận thực tập mà tham gia xây dựng chương trình, đặt bài toán thực tế cho sinh viên, cử chuyên gia giảng dạy và có thể đặt hàng nguồn nhân lực. 

Nhà trường cũng cần tạo điều kiện để giảng viên thường xuyên đi thực tế tại doanh nghiệp, bởi người dạy không thể đào tạo cho thị trường hiện đại nếu chính mình bị tách khỏi sự vận động của thị trường.

Khi đó, thước đo chất lượng của một chương trình đào tạo công nghiệp văn hóa không chỉ là sinh viên hoàn thành bao nhiêu tín chỉ, mà phải là sau khi tốt nghiệp họ làm được gì, tạo ra được sản phẩm gì, có bao nhiêu người có việc làm, thu nhập ra sao, doanh nghiệp đánh giá năng lực thế nào và có khả năng tự tạo việc làm hay không. 

Sự chuyển đổi từ "đào tạo những gì nhà trường có" sang "đào tạo những gì xã hội và thị trường cần" sẽ quyết định chất lượng nguồn nhân lực trong giai đoạn tới.

Trong bối cảnh cạnh tranh nhân lực sáng tạo ngày càng gay gắt, ngoài những giải pháp trên Việt Nam cần làm gì để thu hút và giữ chân những tài năng trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và công nghệ sáng tạo, thưa ông?

Muốn giữ người tài trước hết phải tạo ra một môi trường để tài năng được phát triển. Người sáng tạo giỏi không chỉ tìm kiếm thu nhập; họ còn tìm kiếm tự do sáng tạo, cơ hội thực hiện những dự án lớn, cộng đồng nghề nghiệp, hạ tầng tốt, khả năng tiếp cận thị trường quốc tế và sự tôn trọng đối với tài năng của mình.

Vì thế, chính sách thu hút nhân tài không thể chỉ là lương. Chúng ta cần đồng thời tạo ra thu nhập cạnh tranh, không gian sáng tạo thuận lợi, môi trường sống tốt, hạ tầng công nghệ hiện đại, cơ hội tiếp cận vốn, sự bảo vệ đối với tài sản trí tuệ và cơ hội kết nối quốc tế. 

Dự thảo đã đề xuất nhiều chính sách đáng chú ý đối với nhân lực chất lượng cao như ưu đãi thuế thu nhập cá nhân, cơ chế tiền lương, thưởng cạnh tranh, hỗ trợ môi trường làm việc, không gian sống, hợp tác quốc tế, tài chính cho nghiên cứu - phát triển; với nhân lực nước ngoài còn có chính sách về thẻ tạm trú.

Chúng ta cũng phải đặc biệt chú ý tới người Việt Nam ở nước ngoài. Việt Nam đang có một thế hệ đạo diễn, nhà thiết kế, nghệ sĩ, kiến trúc sư, chuyên gia game, công nghệ, hoạt hình, truyền thông đang làm việc trong những hệ sinh thái sáng tạo hàng đầu thế giới. Không nhất thiết tất cả họ phải trở về sống lâu dài tại Việt Nam. 

Điều quan trọng là thiết kế những cơ chế để họ có thể làm việc cho Việt Nam, đầu tư vào Việt Nam, hướng dẫn tài năng trẻ Việt Nam và kết nối Việt Nam với mạng lưới sáng tạo toàn cầu.

Muốn giữ chân nhân tài cần phải có những "sân chơi lớn". Nếu nghệ sĩ giỏi nhưng không có nhà hát tốt, nhà làm phim giỏi nhưng không có hệ sinh thái sản xuất lớn, nhà thiết kế giỏi nhưng thiếu thương hiệu và thị trường để phát triển thì họ sẽ tìm cơ hội ở nơi khác. 

Chính vì vậy, chính sách nhân lực phải đi cùng chính sách phát triển doanh nghiệp, thị trường, hạ tầng, không gian sáng tạo và tài sản trí tuệ. Không thể giải quyết bài toán nhân lực một cách riêng lẻ.

img

Hình ảnh tại show diễn "Đất nước thiên hùng ca". (Ảnh: NSX).

Từ sáng tạo đến tài sản: Bài toán lớn nằm ở thực thi

Nhìn tổng thể, theo ông, đâu là điểm đột phá quan trọng nhất của Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa và điều gì sẽ quyết định thành công của đạo luật này sau khi được ban hành?

Nếu phải lựa chọn một điểm đột phá lớn nhất, tôi cho rằng đó không phải là một điều khoản cụ thể mà là sự thay đổi tư duy của toàn bộ đạo luật: chuyển từ tư duy chủ yếu quản lý hoạt động văn hóa sang tư duy kiến tạo một hệ sinh thái kinh tế dựa trên văn hóa, sáng tạo và tài sản trí tuệ.

Dự thảo đã bước đầu kết nối những yếu tố trước đây khá rời rạc thành một chuỗi: từ người sáng tạo, đào tạo nhân lực, tài sản trí tuệ, hạ tầng, nguồn vốn, doanh nghiệp, thị trường cho đến tiêu dùng và tái đầu tư.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng xác định dự thảo được xây dựng trên sáu trụ cột gồm hệ sinh thái sáng tạo, tài sản trí tuệ, nguồn nhân lực, hạ tầng, thị trường và nguồn lực tài chính; lấy người sáng tạo, doanh nghiệp và tài sản trí tuệ làm trung tâm. 

Đây là cách tiếp cận phù hợp với bản chất của công nghiệp văn hóa, bởi chúng ta không thể có một ngành công nghiệp chỉ bằng cách tạo ra thật nhiều tác phẩm; phải có cả chuỗi giá trị biến sáng tạo thành sản phẩm, sản phẩm thành tài sản, tài sản thành thị trường và thị trường lại nuôi dưỡng sáng tạo mới.

Tuy nhiên, một đạo luật tiến bộ chưa đủ để tạo ra một ngành công nghiệp mạnh. Điều quyết định cuối cùng vẫn là chất lượng thực thi. 

Các quy định về định giá tài sản trí tuệ sẽ không có ý nghĩa nếu ngân hàng vẫn không dám nhận tài sản ấy; cơ chế đồng đầu tư không có ý nghĩa nếu doanh nghiệp mất nhiều tháng xin thủ tục; chính sách phát triển nhân lực sẽ không tạo chuyển biến nếu chương trình đào tạo vẫn xa thị trường; ưu đãi đầu tư cũng không hấp dẫn nếu doanh nghiệp phải đi qua quá nhiều tầng nấc để tiếp cận.

Vì thế, sau khi Luật được ban hành, điều quan trọng nhất là phải nhanh chóng xây dựng các hướng dẫn đủ cụ thể, phân cấp rõ thẩm quyền, số hóa tối đa thủ tục, xây dựng dữ liệu thị trường và đặc biệt là tạo tâm thế dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm và đồng hành với doanh nghiệp, người sáng tạo trong đội ngũ thực thi. 

Chúng ta phải chuyển từ câu hỏi "quản lý thế nào để không xảy ra vấn đề" sang câu hỏi lớn hơn: "thiết kế thể chế thế nào để cái tốt có cơ hội phát triển, người sáng tạo có thể làm giàu chính đáng từ tài năng và văn hóa Việt Nam tạo ra nhiều giá trị hơn cho đất nước?"

Tôi kỳ vọng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ là một luật chuyên ngành mới, mà thực sự trở thành một đạo luật kiến tạo phát triển, biến tài nguyên văn hóa thành nguồn lực, biến tài năng sáng tạo thành tài sản, biến tài sản trí tuệ thành của cải, đồng thời biến sức hấp dẫn của văn hóa Việt Nam thành năng lực cạnh tranh và sức mạnh mềm quốc gia. 

Khi nhà nước thực sự kiến tạo, doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, người sáng tạo được bảo vệ và thị trường được mở rộng, tôi tin công nghiệp văn hóa Việt Nam hoàn toàn có cơ hội tạo nên một bước phát triển mới trong kỷ nguyên phát triển của đất nước.