Từ giao dịch đến định giá tài sản văn hóa
Chia sẻ với Báo Xây dựng, Ths. Phan Thúy Diệu, Khoa Nghệ thuật điện ảnh, Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội đánh giá, đề xuất cho phép sử dụng IP để góp vốn, làm tài sản bảo đảm là một bước tiến quan trọng trong cách nhìn nhận tài sản trí tuệ.
Theo đó, IP không chỉ là đối tượng cần được bảo hộ mà còn là một loại tài sản có thể được định giá, đầu tư và tiếp tục tạo ra giá trị kinh tế.

Giám tuyển Lý Đợi và hoa hậu Ngọc Hân tại sự kiện đấu giá tranh của các họa sĩ nổi tiếng nhằm quyên tiền để xây nhà cho 20 hộ gia đình khó khăn do Báo Dân trí tổ chức. (Ảnh: Vũ Toàn).
"Điều này đặc biệt có ý nghĩa với các ngành công nghiệp văn hóa. Nếu IP có thể được thẩm định giá, dùng để góp vốn hoặc làm tài sản bảo đảm, các doanh nghiệp sáng tạo, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và các nhóm sáng tạo trẻ, sẽ có thêm cơ hội tiếp cận nguồn vốn để biến ý tưởng thành sản phẩm và phát triển sản phẩm phái sinh", bà Thúy Diệu cho hay.
Cùng chung quan điểm, bà Nguyễn Quý Phương, nguyên Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu báo chí truyền thông, khẳng định đề xuất nói trên là một điểm ưu việt, là bước đi đột phá và đáp ứng mong mỏi của nhiều người.
Tuy nhiên góp ý thêm về dự thảo, bà Phương cho rằng, việc định giá và kiểm đếm cần được tiếp cận từ góc độ doanh nghiệp.
"Khi nhìn một sản phẩm văn hóa qua hoạt động của doanh nghiệp, chúng ta có thể theo dõi các yếu tố đầu vào, đầu ra và dòng tiền.
Đầu vào có thể là chi phí thuê chuyên môn, chẳng hạn thuê đạo diễn, hoặc chi phí mua bản quyền tác phẩm. Đầu ra là doanh thu từ bán vé, tài trợ và các nguồn thu khác. Từ các dòng tiền xoay quanh một sản phẩm công nghiệp văn hóa, chúng ta có cơ sở để kiểm đếm và định giá.
Khi những doanh thu đó được thực hiện minh bạch và đóng thuế, sản phẩm văn hóa cũng trở thành sản phẩm lưu hành hợp pháp trên thị trường", bà Phương nhìn nhận.
Trong khi đó, nhà nghiên cứu và giám tuyển Lý Đợi cho rằng nếu muốn biến những tài sản văn hóa thành tài sản kinh tế, trước hết phải định giá bằng tiền.
Khi đó, giá cả được hình thành qua giao dịch và sự vận động của thị trường. Ban đầu mức giá có thể gây tranh luận, thậm chí rất sai, nhưng chính quá trình thị trường mua bán, tranh luận và va chạm nhiều lần mới giúp xác lập được mức giá.
Ông nhấn mạnh, không chỉ tác phẩm riêng lẻ, di sản văn hóa cũng cần được định giá.
"Muốn làm việc này, trước hết phải bắt đầu từ những tác phẩm, di sản đã có thương hiệu và đã tạo ra tiền. Thông qua dữ liệu bán vé, từ hoạt động du lịch và những hoạt động liên quan, chúng ta có thể xác định được một mức giá trung bình.
Tương tự, các di sản phi vật thể cũng cần được định giá bằng một con số cụ thể. Khi đó, nếu có người khai thác, sử dụng hoặc tạo ra sản phẩm phái sinh, chúng ta có căn cứ để xác định cụ thể các nghĩa vụ, trách nhiệm liên quan và các sai phạm (nếu có).
Việc định giá không chỉ dừng ở tác phẩm gốc mà còn phải tính đến việc tài sản văn hóa được khai thác và tạo ra những sản phẩm khác", ông Đợi nói.
"Kinh nghiệm quốc tế cho thấy muốn thương mại hóa tài sản trí tuệ, không chỉ cần một thị trường giao dịch, mà phải xây dựng đồng bộ cả hệ sinh thái hỗ trợ.
Việt Nam có thể tham khảo cách tiếp cận của WIPO và Singapore trong việc chuẩn hóa quy trình định giá, xây dựng đội ngũ chuyên gia có năng lực và tạo cơ chế kết nối giữa chủ sở hữu tài sản trí tuệ, đơn vị định giá, nhà đầu tư và tổ chức tín dụng.
Hàn Quốc có hệ thống SMART5, sử dụng dữ liệu và các tiêu chí định lượng để đánh giá sáng chế, qua đó hỗ trợ bảo lãnh tín dụng, định giá và thương mại hóa tài sản trí tuệ. Ở ASEAN, việc xây dựng bộ công cụ định giá tài sản trí tuệ chung cũng cho thấy xu hướng ngày càng chuẩn hóa quy trình và phương pháp định giá.
Từ những kinh nghiệm này, Việt Nam cần tập trung vào ba yếu tố: xây dựng chuẩn định giá phù hợp với thông lệ quốc tế; phát triển đội ngũ chuyên gia định giá chuyên nghiệp; và quan trọng nhất là hình thành cơ sở dữ liệu đủ lớn về giao dịch, cấp phép và khai thác tài sản trí tuệ", Ths. Phan Thúy Diệu, Khoa Nghệ thuật điện ảnh, Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội nêu quan điểm.
Định giá IP cần gắn với cơ chế tài chính và hệ thống thẩm định đủ tin cậy
Các chuyên gia đều có quan điểm tương tự rằng, một trong thách thức lớn là muốn tài sản trí tuệ được định giá, đầu tư và tiếp tục tạo ra giá trị kinh tế phải có sự tham gia của các tổ chức tài chính, cụ thể là ngân hàng.
Theo bà Thúy Diệu, từ việc pháp luật công nhận đến việc ngân hàng thực sự sẵn sàng cho vay vẫn còn khoảng cách.
"Các tổ chức tín dụng phải tính đến khả năng thu hồi vốn và xử lý tài sản khi có rủi ro. Trong khi đó, giá trị của một bộ phim, một kịch bản, nhân vật hoạt hình hay thương hiệu sáng tạo phụ thuộc khá nhiều vào thị trường và khả năng khai thác trong tương lai.
Vì vậy, bên cạnh hành lang pháp lý, cần có hệ thống định giá đáng tin cậy, cơ sở dữ liệu về thị trường tài sản trí tuệ, cơ chế bảo lãnh và chia sẻ rủi ro, cũng như thị trường chuyển nhượng bản quyền đủ phát triển.
Khi ngân hàng nhìn thấy không chỉ "giá trị trên giấy" mà cả khả năng khai thác và thanh khoản của tài sản trí tuệ, dòng vốn mới có thể đi vào lĩnh vực sáng tạo", bà Diệu nhìn nhận.
Cùng chung quan điểm, ông Lý Đợi phân tích: "Ngân hàng không thể chỉ nhìn một bức tranh rồi quyết định có cho vay hay không.
Họ phải có những người am hiểu thị trường, có pháp chế và có khả năng xác định tranh thật hay giả, tranh thuộc giai đoạn nào, giá thị trường hiện tại là bao nhiêu.
Điều đó có nghĩa là phải xây dựng được cơ chế để các bên tin tưởng và cùng chịu trách nhiệm, từ người thẩm định, người bảo chứng đến các chủ thể tham gia giao dịch...
Khi một giao dịch thành công, những người tham gia vào quá trình thẩm định, bảo chứng cũng phải được hưởng quyền lợi tương xứng với trách nhiệm.
Đồng thời, ngân hàng phải tính được phương án xử lý nếu người vay không trả được nợ, chẳng hạn phát mại và bán tài sản trên thị trường.
Nếu một bức tranh có giá thị trường 100 triệu đồng, việc cho vay khoảng 60 triệu đồng có thể được tính toán trên cơ sở khi phát mại vẫn có khả năng thu hồi vốn.
Đặc biệt, nghệ thuật phải được nhìn nhận như một lĩnh vực đầu tư có rủi ro và được chấp nhận tính mạo hiểm.
Nếu muốn đưa tài sản trí tuệ vào hệ thống tài chính, phải nhìn nhận nó theo hướng đầu tư mạo hiểm, với những quy luật tương ứng. Tôi lấy việc một nhà sưu tập có thể từng mua phải tranh giả nhưng vẫn tiếp tục mua tranh như một "kênh" đầu tư làm ví dụ cho khả năng chấp nhận rủi ro đó".
Để cánh cửa pháp lý mở đường cho dòng vốn
Ở góc độ pháp lý, luật sư Hoàng Hà (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho rằng, nếu dự thảo luật được thông qua, kết quả thẩm định giá cũng chỉ là giá tham chiếu, không buộc tổ chức tín dụng phải cho vay.
Ngân hàng phải xác định tài sản trí tuệ thuộc quyền sở hữu của ai, quyền đó còn hiệu lực không, có tranh chấp, bị hạn chế chuyển nhượng hoặc cấp phép không, khả năng tạo dòng tiền và khả năng xử lý khi phát sinh nợ xấu...
Do đó cần chuẩn hóa hồ sơ pháp lý, phương pháp định giá và đánh giá lại, làm rõ đăng ký, thứ tự ưu tiên, chuyển nhượng hoặc đấu giá khi xử lý tài sản, đồng thời có cơ chế bảo lãnh, bảo hiểm hoặc chia sẻ rủi ro.
"Luật đã mở cửa pháp lý, nhưng cần một cơ chế vận hành liên ngành để tín dụng thực sự đi qua cánh cửa ấy", ông Hà nói.

Luật sư Hoàng Hà (Đoàn Luật sư TP.HCM). (Ảnh: NVCC).
Theo luật sư Hà, thách thức lớn nhất không phải là có phương pháp định giá, mà là kết quả định giá có đủ tin cậy để ngân hàng, nhà đầu tư và bên mua chấp nhận hay không.
Vị luật sư phân tích, khác với đất đai hoặc máy móc, giá trị tài sản trí tuệ phụ thuộc lớn vào tình trạng pháp lý, thời hạn bảo hộ, khả năng tạo dòng tiền, thị trường khai thác và tốc độ thay đổi công nghệ. Một quyền đang có tranh chấp, có nguy cơ bị hủy bỏ hiệu lực hoặc không thể chuyển giao độc lập với doanh nghiệp có thể mất giá rất nhanh.
Thị trường cũng thiếu dữ liệu so sánh vì nhiều hợp đồng chuyển nhượng, cấp phép được bảo mật. Giá trị của nhãn hiệu, bản quyền hay sáng chế thường gắn với uy tín, hệ thống phân phối, khách hàng và năng lực vận hành của doanh nghiệp. Vì vậy khó tách riêng phần giá trị pháp lý có thể chuyển nhượng hoặc dùng làm tài sản bảo đảm.
"Điều 17 dự thảo đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu giá giao dịch, chuẩn nghề nghiệp và phương pháp định giá là đúng hướng. Tuy nhiên cần đồng thời chuẩn hóa hồ sơ pháp lý, công khai các giả định và giới hạn của kết quả định giá, kiểm soát xung đột lợi ích, định kỳ đánh giá lại và phát triển thị trường thứ cấp.
Nếu không có đầu ra giao dịch, một tài sản dù được định giá rất cao vẫn chỉ có giá trị trên báo cáo. Thương mại hóa chỉ thành công khi quyền sở hữu rõ ràng, mức giá được thị trường tin cậy và tài sản có thể chuyển nhượng thành tiền", ông Hà nói.
Dự thảo đề xuất giao Ngân hàng Nhà nước xây dựng cơ chế quản lý rủi ro, bảo lãnh tín dụng, chia sẻ rủi ro và hướng dẫn tổ chức tín dụng cấp vốn dựa trên giá trị tài sản trí tuệ.
Tuy nhiên, luật sư Hà cho rằng, dự thảo cần đặt các nguyên tắc vận hành cốt lõi ngay trong luật, thay vì giao toàn bộ cho Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn.
"Trước hết phải có hồ sơ tài sản trí tuệ sẵn sàng giao dịch, thể hiện chủ sở hữu, tình trạng pháp lý, thời hạn bảo hộ, tranh chấp, hợp đồng cấp phép, biện pháp bảo đảm và dòng tiền từ khai thác. Hồ sơ phải liên thông giữa cơ quan sở hữu trí tuệ, cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm và tổ chức tín dụng.
Tiếp theo, cần có chuẩn định giá được ngân hàng chấp nhận, thời điểm định giá lại và mức chiết khấu đối với từng loại quyền.
Kết quả định giá chỉ là giá tham chiếu, nên phải quy định thêm tiêu chí về tỷ lệ cho vay, phân loại nợ và trích lập dự phòng.
Quan trọng nhất là cơ chế xử lý nợ xấu. Dự thảo cần làm rõ thứ tự ưu tiên giữa các bên nhận bảo đảm, cách bán, chuyển nhượng hoặc cấp phép tài sản, giá trị của hợp đồng cấp phép đang tồn tại và thủ tục ghi nhận chủ sở hữu mới. Trường hợp quyền bị tranh chấp, hủy bỏ hoặc doanh nghiệp phá sản cũng phải có phương án cụ thể.
Cơ chế bảo lãnh và chia sẻ rủi ro phải xác định phần trách nhiệm của nhà nước, ngân hàng và doanh nghiệp, điều kiện truy đòi và trách nhiệm khi định giá sai. Khi xác lập quyền, định giá, đăng ký, cấp tín dụng và xử lý tài sản được nối thành một quy trình, ngân hàng mới có cơ sở thực tế để nhận tài sản trí tuệ", luật sư Hà nêu quan điểm.
"Với các IP lớn, cần phân biệt hai lớp quyền là quyền tác giả và quyền tài sản. Quyền tác giả gắn với quyền nhân thân, trong khi quyền tài sản có thể được ủy quyền, ủy thác và chuyển giao để khai thác.
Ví dụ, chủ sở hữu quyền tài sản vẫn có thể là một dòng họ hoặc người thừa kế, nhưng quyền khai thác và thương mại hóa có thể được chuyển giao cho một tổ chức hoặc cá nhân khác trong một thời hạn và với những điều kiện nhất định. Khi đó, việc chuyển giao này trở thành một giao dịch kinh tế giữa các bên.
Hiện nay, với một số di sản như "Truyện Kiều", doanh nghiệp vẫn có thể khai thác nhưng lại không rõ cơ chế xác định quyền, việc thực hiện nghĩa vụ tài chính hay chủ thể có quyền đối với phần tài sản đó.
Tôi mong muốn dự thảo luật có thể tiếp tục xử lý vấn đề chuyển giao, ủy quyền và khai thác quyền tài sản đối với các IP. Trên thực tế, quyền tác giả và quyền khai thác có thể được phân tách. Tác giả hoặc người thừa kế vẫn có quyền nhất định đối với tài sản, trong khi quyền khai thác và thương mại hóa có thể được chuyển giao cho các tổ chức khác theo những điều kiện cụ thể.
Đây là cơ chế có thể thấy ở nhiều IP lớn trên thế giới. Tuy nhiên, tại Việt Nam, tôi cho rằng chúng ta vẫn cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý cho vấn đề này. Ban soạn thảo đã có nhiều cố gắng, nhưng đây là lĩnh vực mới, cần có thời gian để tiếp tục bóc tách và xử lý từng lớp vấn đề", bà Nguyễn Quý Phương đề xuất góp ý với dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa.
Bình luận bài viết (0)
Gửi bình luận