Hàng hải

Tạo đòn bẩy tài chính, đưa đội tàu Việt Nam vươn ra biển lớn

Mục tiêu nâng thị phần đội tàu Việt Nam từ khoảng 5-8% hiện nay lên 20% vào năm 2030 đòi hỏi những chính sách tài chính đủ mạnh để doanh nghiệp có nguồn lực trẻ hóa đội tàu, mở rộng quy mô và nâng sức cạnh tranh.

Thúc đẩy đòn bẩy tài chính và liên minh vận tải

Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, khẳng định quyết tâm phát triển kinh tế hàng hải trở thành trụ cột quan trọng của kinh tế biển, tạo tiền đề để Việt Nam vươn lên trở thành cường quốc hàng hải.

Đột phá từ hạ tầng tới thể chế, hiện thực hóa mục tiêu cường quốc hàng hải - Ảnh 1.

Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, thị phần vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu do đội tàu biển Việt Nam đảm nhận đạt 20% và chi phí logistics giảm xuống dưới 12% GDP (Ảnh: Tạ Hải).

Ngay sau đó, ngày 7/8/2026, Nghị quyết số 218/NQ-CP ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW cua Chính phủ đã chính thức thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ và tiến độ hoàn thành cụ thể cho từng Bộ, ngành và địa phương.

Hai Nghị quyết đã giao các Bộ, ngành chủ trì thực hiện hai chỉ tiêu định lượng vô cùng cấp bách đến năm 2030, là thị phần vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu do đội tàu biển Việt Nam đảm nhận đạt 20% và chi phí logistics giảm xuống dưới 12% GDP. 

Đây vừa là thước đo năng lực tự chủ kinh tế quốc gia, vừa là yêu cầu sống còn để gia tăng sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên trường quốc tế.

Hiện nay, thị phần vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu do đội tàu biển quốc gia đảm nhận được khoảng 5 - 8%. Hầu hết các hành lang thương mại biển xa chủ lực sang châu Âu, Bắc Mỹ hay Bắc Á đều nằm trong tay các hãng tàu nước ngoài. Việc phải nâng thị phần từ mức 5 - 8% hiện nay lên mốc 20% chỉ trong thời gian đến năm 2030 là bài toán không đơn giản và chứa nhiều thách thức.

Mục tiêu này không thể đạt được nếu chúng ta tiếp tục áp dụng những giải pháp nửa vời hay hành động theo lối mòn. Đã đến lúc cần sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ và trách nhiệm từ Chính phủ, các Bộ/ngành liên quan đến cộng đồng doanh nghiệp, nhằm đưa các chính sách hỗ trợ đi vào thực chất, tháo gỡ triệt để các rào cản tài chính và tạo điều kiện kinh doanh thực sự thông thoáng cho các hãng tàu trong nước.

Để nâng thị phần vận tải xuất nhập khẩu, một trong những giải pháp quan trọng là cơ cấu lại tập quán thương mại xuất nhập khẩu và triển khai các cơ chế đòn bẩy kinh tế đắt giá.

Nhiều thập kỷ qua, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam duy trì thói quen "bán FOB, mua CIF", tức là giao toàn bộ quyền quyết định thuê tàu, mua bảo hiểm cho đối tác nước ngoài. 

Muốn giành lại thị phần trên sân nhà, Nhà nước cần có chiến lược tuyên truyền và khuyến khích doanh nghiệp dịch chuyển mạnh sang tập quán "bán CIF, mua FOB". Khi trực tiếp đứng ra đàm phán cước vận tải và chỉ định tàu, doanh nghiệp trong nước sẽ tạo ra nguồn hàng dồi dào, ổn định cho đội tàu biển quốc gia.

Cạnh đó, cần ban hành chính sách ưu đãi tài chính, thuế, phí đi vào thực chất. Cụ thể hóa nhiệm vụ giao tại Nghị quyết 218 về xây dựng cơ chế tài chính biển và hỗ trợ doanh nghiệp hàng hải, Chính phủ cần xem xét áp dụng ngay cơ chế miễn, giảm thuế giá trị gia tăng, thuế TNDN, chính sách ưu đãi tín dụng và giảm phí hàng hải đặc thù dành riêng cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam khi ký kết các hợp đồng vận tải dài hạn với các hãng tàu Việt Nam.

Việc mở các gói tín dụng ưu đãi dài hạn với lãi suất cố định từ 3 - 5%/năm chính là "nguồn máu" tài chính quan trọng giúp các hãng tàu Việt Nam dũng cảm đầu tư trẻ hóa đội tàu, tập trung phát triển các dòng tàu container cỡ lớn, tàu chở hóa chất, khí hóa lỏng (LNG/LPG) chuyên dụng tiệm cận chuẩn mực phát thải xanh của IMO.

Việc thúc đẩy sự liên kết và thành lập các liên minh vận tải biển cũng là một trong những giải pháp quan trọng. Doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam phần lớn có quy mô vừa và nhỏ, nếu hoạt động đơn lẻ sẽ rất dễ bị các hãng tàu lớn của nước ngoài chèn ép về giá cước và lịch trình. 

Việc liên kết hình thành liên minh vận tải biển quốc gia sẽ giúp các hãng tàu nội hợp lực quy mô fleet, điều phối linh hoạt vỏ container, tối ưu hóa các tuyến hành trình và chia sẻ rủi ro vận hành.

Sự phối hợp chặt chẽ giữa liên minh hãng tàu với các Hiệp hội ngành hàng xuất khẩu lớn như thủy sản, da giày, dệt may, nông sản... sẽ giúp tập hợp được khối lượng hàng hóa đủ lớn hai chiều, tạo vị thế đàm phán giá cước cạnh tranh sòng phẳng.

Thúc đẩy phát triển đường thuỷ, giảm chi phí logistics

Chi phí vận tải hiện chiếm tới 50 - 60% tổng chi phí logistics tại Việt Nam. Nghịch lý ở chỗ, đường bộ đang gánh vác hơn 70% lượng hàng hóa với chi phí đắt hơn đường thủy từ 3 - 5 lần. 

Do cấu thành chi phí logistics bao gồm vận chuyển, lưu kho đọng vốn, quản lý hành chính và chi phí rủi ro, nên để đưa chi phí logistics về mức dưới 12% GDP, việc dịch chuyển phương thức vận tải sang đường thủy nội địa là ưu tiên số một.

Do đường sắt cần nguồn vốn lớn và thời gian thi công dài hạn chưa thể hoàn thành ngay trong 4 năm tới, trọng tâm ưu tiên lúc này phải là tập trung toàn lực nâng cấp hạ tầng đường thủy nội địa.

Vền nguồn lực đầu tư, cần tạo đột phá trong ngân sách đầu tư công cho hạ tầng đường thủy. Bám sát chỉ đạo tại Nghị quyết 218/NQ-CP về ưu tiên nguồn lực đầu tư công cho hạ tầng biển và hạ tầng kết nối, Nhà nước cần có sự điều chỉnh chiến lược về phân bổ nguồn lực: tăng ngay tỷ trọng vốn đầu tư công cho hạ tầng đường thủy nội địa từ mức khiêm tốn khoảng 2%/năm hiện nay lên mốc 5 - 7%/năm trong tổng ngân sách đầu tư hạ tầng giao thông.

Nguồn vốn đột phá này sẽ nhanh chóng tập trung nạo vét chuẩn tắc các luồng sông huyết mạch, nâng tĩnh không các cầu vượt sông bị khống chế tại Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, nâng cấp hệ thống bến cảng sông, cảng cạn ICD kết nối trực tiếp ra các cụm cảng nước sâu.

Việc phát huy tối đa thế mạnh của hơn 20.000 km đường thủy nội địa và lực lượng hơn 20 vạn phương tiện sông sẽ lập tức gánh vác bớt tải trọng cho đường bộ, tạo hành lang vận tải đường thủy chi phí thấp, xóa bỏ gánh nặng phí cầu đường và cắt giảm mạnh chi phí vận tải cho doanh nghiệp.

Đồng thời, tối ưu hóa vận hành, giảm tình trạng "xe rỗng, sà lan rỗng chiều về". Tình trạng phương tiện chạy rỗng một chiều đang khiến chi phí vận tải bị dội giá lên 40% – 50%.

Thực hiện Chương trình hành động tại Nghị quyết 218/NQ-CP về đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển hệ thống 5 - 6 trung tâm logistics hiện đại, giải pháp cấp bách là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, xây dựng Hệ thống một cửa cảng biển, phần mềm TMS (Quản lý vận tải), WMS (Quản lý kho bãi) và công nghệ AI để điều phối luồng tuyến, chia sẻ dữ liệu về vỏ container trống giữa các doanh nghiệp.

Việc tối ưu hóa luồng hàng hai chiều và kết nối chặt chẽ giữa chủ hàng với các hãng tàu sẽ giúp cắt giảm ngay 15% - 20% chi phí vận hành trực tiếp, tạo bệ đỡ cơ khí và hạ tầng vững chắc để đưa tổng chi phí logistics về mốc dưới 12% GDP.

Có thể nói, bứt phá thị phần đội tàu lên 20% và đưa chi phí logistics xuống dưới 12% GDP trong 4 năm tới là chiến dịch không đơn giản, nhưng hoàn toàn khả thi nếu có quyết tâm chính trị đủ lớn và các giải pháp thực chất.

Khi Chính phủ kiến tạo hành lang, Bộ, ngành cởi trói thể chế và các doanh nghiệp chủ động liên kết, tạo đòn bẩy thương mại, trụ cột kinh tế hàng hải chắc chắn sẽ bứt phá mạnh mẽ, hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành cường quốc hàng hải trong kỷ nguyên mới.

Ts. Bùi Thiên Thu

GS. Đại học Okayama (Nhật Bản)

Nguyên Cục trưởng Cục Đường thủy nội địa Việt Nam