Hàng hải

Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên và lời dặn dành cho những người đi biển

Từ cầu tàu của những chuyến hàng chở gạo cứu đói năm 1985 đến cuộc trò chuyện cuối đời vào năm 2019, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên luôn đau đáu một điều: Mọi chính sách phải bắt nguồn từ thực tiễn và phải hướng tới con người.

Vị tướng đội mũ cối trên cầu tàu

Gần bốn mươi năm trước, tôi là một thủy thủ thực tập trẻ tuổi, ngơ ngác bước chân lên con tàu biển giữa lộng gió khơi xa. Năm tháng trôi qua, từ người lính biển ngày nào đến khi đảm nhiệm công tác quản lý ngành, tôi vẫn luôn ghi nhớ những lời căn dặn của bác Đồng Sỹ Nguyên (nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải). 

Đặc biệt, những điều bác chia sẻ trong lần gặp cuối cùng đã trở thành kim chỉ nam, là điểm tựa tinh thần vô giá đối với tôi, và phần nào còn soi đường cho những suy nghĩ, chính sách phát triển ngành đường thủy, hàng hải hôm nay.

Vị tướng đường Trường Sơn huyền thoại và trăn trở cuối cùng với những con sóng  - Ảnh 1.

Tàu biển Việt Nam.

Ngược dòng thời gian về những năm 1985 - 1986, đất nước đang ở một trong những giai đoạn khó khăn nhất trước thềm Đổi mới. Thiên tai liên tiếp xảy ra khiến miền Bắc thiếu hụt lương thực nghiêm trọng. Trước tình thế cấp bách ấy, Chính phủ phát động một chiến dịch vận tải đặc biệt trên biển, đưa gạo từ miền Nam ra Bắc để kịp thời bảo đảm đời sống cho nhân dân.

Khi đó, tôi là một thủy thủ tập sự, may mắn có mặt trên một trong những con tàu tham gia chiến dịch lịch sử ấy. Không khí tại các cảng biển miền Nam lúc bấy giờ khẩn trương chẳng khác nào một chiến trường. Giữa cái nắng như đổ lửa, tiếng máy móc gầm vang và bụi gạo, bụi hàng hóa mịt mù, chúng tôi bất ngờ được đón một vị khách đặc biệt: bác Đồng Sỹ Nguyên.

Sau bốn thập kỷ, hình ảnh ấy vẫn hiện lên trong tôi như một thước phim sống động. Không comple, không nghi thức cầu kỳ, bác xuất hiện trên cầu tàu trong bộ trang phục giản dị, đầu đội chiếc mũ cối quen thuộc của người lính Trường Sơn. Bác không đứng từ xa quan sát mà đi thẳng xuống cầu cảng, rồi bước lên boong tàu giữa nắng gió để trực tiếp kiểm tra, chỉ đạo công việc.

Giữa nhịp độ khẩn trương của bến cảng, bác theo sát từng khâu bốc xếp, yêu cầu bằng mọi giá phải rút ngắn thời gian giải phóng tàu để những chuyến gạo nghĩa tình sớm đến với đồng bào miền Bắc. Tác phong của vị Tư lệnh Trường Sơn năm nào dường như được bác mang nguyên vẹn vào mặt trận kinh tế: quyết đoán, sâu sát và đầy nhiệt huyết.

Nhưng điều khiến người thủy thủ trẻ tuổi như tôi xúc động hơn cả lại là sự quan tâm chân thành của bác đối với anh em thuyền viên. Bước vào cabin, bác hỏi han nơi ăn ở, bữa cơm hằng ngày, nguồn nước ngọt và những khó khăn trong cuộc sống lênh đênh trên biển. Bác cũng yêu cầu lãnh đạo các doanh nghiệp vận tải biển, các thuyền trưởng phải quan tâm nhiều hơn đến đời sống của người lao động.

Bác nói: "Tàu muốn chạy tốt, hàng muốn đi nhanh thì cái bụng của anh em thủy thủ phải ấm, tinh thần anh em phải vững. Họ là những người trực tiếp đối mặt với sóng gió, không được để thủy thủ chịu thiệt thòi".

Lời nói giản dị ấy đã gieo vào lòng người thủy thủ trẻ là tôi ngày đó niềm tự hào sâu sắc về nghề nghiệp mình lựa chọn, đồng thời giúp tôi hiểu rằng phía sau những con tàu và những chuyến hàng luôn là con người - yếu tố quan trọng nhất quyết định sức mạnh của ngành vận tải biển.

Làm chính sách không chỉ lý thuyết suông

Vị tướng đường Trường Sơn huyền thoại và trăn trở cuối cùng với những con sóng  - Ảnh 2.

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ GTVT Đồng Sỹ Nguyên (người đứng hàng đầu, mặc áo trắng, đội mũ) tại lễ Khánh thành cầu Chương Dương tháng 6/1985.

Sau chiến dịch vận chuyển gạo năm ấy, tôi còn nhiều lần được gặp lại bác Đồng Sỹ Nguyên trong quá trình công tác. Nhưng cuộc gặp để lại trong tôi nhiều xúc động, trăn trở và lòng biết ơn sâu sắc nhất diễn ra vào tháng 3/2019.

Khi ấy, bác đã rất yếu và đang điều trị trên giường bệnh. Nghe tin tôi đến thăm, bác vẫn gắng gượng ngồi dậy trò chuyện. Ở tuổi xưa nay hiếm, dáng vẻ của vị tướng huyền thoại đã nhuốm màu thời gian, nhưng ánh mắt vẫn tinh anh và đầy nhiệt huyết.

Khi nghe tôi báo cáo về tình hình phát triển của ngành, đôi mắt bác bỗng sáng lên. Sự mệt mỏi dường như lùi lại phía sau, nhường chỗ cho niềm quan tâm sâu nặng đối với sông biển và giao thông vận tải nước nhà.

Bác hỏi rất kỹ về vận tải biển, vận tải thủy nội địa, sự phát triển của đội tàu, công tác đào tạo nguồn nhân lực hàng hải và đường thủy. Đặc biệt, bác tỏ ra phấn khởi khi nghe về sự phát triển của đội tàu vận tải biển pha sông (VR-SB) - mô hình mà nhiều thập niên trước chính bác là người có quyết định mang tính tiên phong khi chỉ đạo hình thành đội tàu đầu tiên.

Nở nụ cười mãn nguyện, bác nói việc phát triển hiệu quả vận tải pha sông biển chính là cách khai thác tối đa lợi thế bờ biển dài và mạng lưới sông ngòi dày đặc của Việt Nam, qua đó giảm chi phí logistics và nâng cao năng lực vận tải quốc gia. Đến hôm nay, nhìn lại, tôi càng thấm thía giá trị của tầm nhìn ấy.

Trong không gian tĩnh lặng của căn phòng bệnh, bác nắm tay tôi thật lâu. Những lời bác nói khi đó không còn là chỉ đạo của một người lãnh đạo, mà là tâm huyết của một thế hệ đi trước gửi gắm cho những người làm nghề hôm nay.

Bác căn dặn: "Cháu làm công tác chiến lược, chính sách thì điều quan trọng nhất là phải có thực tế. Chính sách phải đi vào cuộc sống, mang lại hiệu quả cho người dân và doanh nghiệp, chứ không được nằm trên giấy. Muốn vậy phải đi nhiều, nghe nhiều, hiểu cơ sở, làm nhiều hơn nói".

Rồi giọng bác chùng xuống: "Làm gì thì làm, các cháu phải đặc biệt quan tâm đến đời sống người lao động trong ngành, nhất là anh em thủy thủ tàu biển, tàu sông. Nghề này vất vả, xa nhà, phải hy sinh rất nhiều. Nếu không có chính sách phù hợp để thu hút và giữ chân họ thì ngành không thể phát triển bền vững được".

Tôi lặng người trước những lời tâm huyết ấy. Một vị tướng từng gắn bó với những chiến dịch làm thay đổi vận mệnh đất nước, trong những ngày cuối đời vẫn đau đáu về đời sống của những người thủy thủ bình dị. Đó không chỉ là tầm nhìn của một nhà chiến lược, mà còn là tấm lòng của một người suốt đời vì nhân dân.

Vài tuần sau cuộc gặp ấy, bác Đồng Sỹ Nguyên ra đi. Đó cũng là lần cuối cùng tôi được trò chuyện với vị tướng Trường Sơn huyền thoại.

Hôm nay, khi Ngày Thuyền viên thế giới 25/6 lại về, những lời căn dặn năm nào vẫn còn nguyên giá trị. Ngành hàng hải và đường thủy Việt Nam đang đứng trước những cơ hội mới, đồng thời đối mặt với những thách thức lớn từ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe. Nhưng dù công nghệ phát triển đến đâu, con người vẫn luôn là yếu tố trung tâm.

Bài học mà bác Đồng Sỹ Nguyên để lại giúp chúng tôi hiểu rằng không một chính sách nào dành cho thuyền viên có thể được xây dựng chỉ từ bàn giấy. Chính sách ấy phải bắt nguồn từ sự thấu hiểu những nhọc nhằn nơi đầu sóng ngọn gió, từ những ca trực xuyên đêm giữa biển khơi, từ nỗi nhớ nhà và những hy sinh thầm lặng của người đi biển.

Xây dựng môi trường làm việc an toàn, chế độ đãi ngộ tương xứng và cơ hội phát triển nghề nghiệp bền vững cho thuyền viên không chỉ là trách nhiệm của ngành, mà còn là cách thiết thực nhất để tri ân những người đã và đang cống hiến cho sự phát triển của đất nước.

Nhân Ngày Thuyền viên thế giới 25/6, xin được gửi lời biết ơn sâu sắc tới các thế hệ thuyền viên Việt Nam - những con người lặng thầm đứng nơi đầu sóng ngọn gió, góp phần nối những dòng chảy kinh tế và viết tiếp niềm tự hào của ngành hàng hải, đường thủy nước nhà.

Ts. Bùi Thiên Thu

Gs Đại học Okayama (Nhật Bản)

Nguyên Cục trưởng Cục Đường thủy nội địa VN