Việt Nam nửa thập kỷ vươn mình
Với những thành tựu đã đạt được trong 5 năm qua, trao đổi với Báo Xây dựng, các chuyên gia tin rằng câu chuyện phát triển của Việt Nam sẽ tiếp tục truyền cảm hứng, không chỉ với tư cách là một quốc gia đã vươn lên mạnh mẽ.
Rút ngắn khoảng cách với kinh tế Thái Lan
Đầu năm 2026, Tạp chí Nikkei (Nhật Bản) đăng tải bài viết với tiêu đề "GDP Việt Nam có thể vượt qua Thái Lan trong năm 2026".

Bài viết nhận định Việt Nam có khả năng vượt qua Thái Lan về GDP danh nghĩa ngay trong đầu năm nay nhờ động lực từ các dự án công quy mô lớn.
Nghiền ngẫm bài viết của Nikkei, ông Trần Văn Thọ, Giáo sư Kinh tế tại Đại học Waseda (Tokyo, Nhật Bản) chợt nhớ lại, cách đây 31 năm ông từng có bài viết đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn (nay là Tạp chí Kinh tế Sài Gòn) vào ngày 26/1/1995. Trong đó, ông từng chọn Thái Lan để so sánh với Việt Nam, từ đó đánh giá nguy cơ tụt hậu và làm sao để rút ngắn khoảng cách, theo kịp họ.
"Tôi đã đem Việt Nam so sánh với Thái Lan dựa trên nhiều chỉ tiêu phát triển trong năm 1993 của hai nước như GDP đầu người, thu nhập đầu người theo sức mua ngang giá (PPP), tỉ lệ đầu tư/GDP, chỉ số phát triển nguồn nhân lực, trình độ công nghiệp hóa (tỉ lệ giá trị gia tăng công nghiệp/GDP), tuổi thọ trung bình… và tạm kết luận là Việt Nam đi sau Thái Lan khoảng 25 năm", ông Thọ chia sẻ.
Cuối năm 2025 vừa qua, tạp chí quốc tế độc lập, uy tín Monocle (thường tập trung phân tích các vấn đề toàn cầu liên quan đến chính trị, kinh doanh, văn hóa, thiết kế và lối sống chất lượng) đã nhận định Việt Nam và Malaysia được xem là hai điểm sáng hiếm hoi của khu vực Đông Nam Á.
Đến nay, theo vị giáo sư, do tốc độ phát triển của Việt Nam gần đây và trong nhiều năm tới dự kiến cao hơn Thái Lan nên GDP của Việt Nam năm 2026 có thể đạt trên dưới 550 tỷ USD, cao hơn Thái Lan.
Tuy dân số Việt Nam đông hơn Thái Lan (tương ứng là 101 triệu và 72 triệu năm 2024) nên GDP tính trên đầu người của Việt Nam còn thấp hơn Thái Lan trong vài năm tới. Nhưng nếu so với năm 1993 (250 USD và 2.000 USD), khoảng cách đã rút ngắn đáng kể.
Ông chỉ ra, nhiều chỉ tiêu khác cũng cho thấy khuynh hướng tương tự. Cụ thể, chỉ số phát triển nguồn nhân lực năm 1990 của Việt Nam là 0,472 thấp xa so với Thái Lan là 0,715, nhưng đến năm 2023, hai chỉ số đó rất gần nhau, tương ứng là 0.766 và 0.798.
Về tuổi thọ trung bình, năm 1990, Việt Nam kém Thái Lan 3,4 tuổi nhưng gần đây giảm còn 1,7 tuổi.
"Vì nhiều yếu tố ngoài kinh tế, Thái Lan đã phát triển chậm hẳn trong nhiều năm nay nên Việt Nam theo kịp. Thành quả phát triển của Việt Nam cho đến nay đáng ghi nhận", giáo sư Thọ nhận định.
Những dấu mốc lịch sử
Đồng tình với đánh giá này, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cũng cho rằng việc Việt Nam có thể vượt Thái Lan về tổng quy mô GDP của cả nền kinh tế là một tín hiệu tích cực, đáng ghi nhận.

TP Hồ Chí Minh rực rỡ về đêm bên bờ sông Sài Gòn. Ảnh: CTV Báo ảnh Việt Nam.
Trong 5 năm qua, chuyên gia Phạm Chi Lan cho biết, Việt Nam đã nỗ lực rất lớn để vượt qua những hệ quả làm suy giảm tăng trưởng do đại dịch Covid-19 gây ra.
Tính riêng năm 2025, Việt Nam ghi dấu mốc lịch sử khi quy mô GDP vượt ngưỡng 500 tỷ USD (12.847,6 nghìn tỷ đồng), tăng 38 tỷ USD so với năm 2024. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên đạt mốc 900 tỷ USD - mức cao nhất từ trước đến nay.
Đặc biệt, trong bối cảnh căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc vốn là hai thị trường lớn nhất, Việt Nam đã có những nỗ lực không mệt mỏi, vận dụng nhiều kênh khác nhau nhằm duy trì sự cân bằng nhất định trong quan hệ với cả hai đối tác.
"Thậm chí, xuất khẩu sang Mỹ tiếp tục tăng", bà Lan nói và nhấn mạnh điều này phản ánh nỗ lực, khả năng chống chịu rất lớn của nền kinh tế Việt Nam.
Từ nửa năm 2024 trở lại đây, bắt đầu xuất hiện những thay đổi lớn về chính sách và cách nhìn nhận. Nhiều chủ trương, định hướng mới tạo nền tảng rất quan trọng cho định hướng phát triển của đất nước trong tương lai.
Tâm đắc với Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị về kinh tế tư nhân, bà Lan cho biết, khu vực tư nhân hiện thu hút khoảng 80% lực lượng lao động. Nếu nhìn vào những ngành nghề mới hoặc những lĩnh vực phát triển đáng chú ý trong 5 năm qua, có thể thấy phần lớn đều gắn với khu vực doanh nghiệp tư nhân.
"Đơn cử, trong một số dự án hạ tầng, khi khu vực tư nhân đảm nhận, tiến độ và hiệu quả triển khai có sự khác biệt rõ rệt", bà Lan dẫn chứng.
Câu chuyện truyền cảm hứng
Đánh giá về những bước phát triển của Việt Nam thời gian qua, Điều phối viên thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam Pauline Tamesis cho biết: Trong hơn ba thập kỷ, Liên hợp quốc nhìn nhận Việt Nam đã đạt được những tiến bộ rất nổi bật từ việc đưa hàng triệu người thoát nghèo, thúc đẩy phát triển công nghiệp cho đến mở rộng hệ thống an sinh xã hội.
"Việt Nam đã cho thế giới thấy sức mạnh của tinh thần kiên cường và tầm nhìn chiến lược trong phát triển", bà Pauline Tamesis nói và cho biết, với mức thu nhập bình quân đầu người vượt ngưỡng 5.000 USD, Việt Nam đang tiến sát nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao.
Tỷ lệ nghèo đói đã giảm xuống mức thấp kỷ lục, trong khi đất nước tiếp tục nằm trong nhóm có chỉ số phát triển con người cao. Đây là những thành tựu rất đáng trân trọng và tự hào.
Theo bà, điều khiến câu chuyện phát triển của Việt Nam thực sự truyền cảm hứng không chỉ nằm ở các con số, mà đó là quyết tâm bảo đảm tăng trưởng mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân.
Đó còn là cam kết theo đuổi phát triển bền vững, lấy con người làm trung tâm, giảm bất bình đẳng và tăng cường hiệu lực, hiệu quả của thể chế. Đó cũng là tinh thần chủ động và bản lĩnh trong việc ứng phó với những thách thức do biến đổi khí hậu, hướng tới một tương lai xanh hơn, bền vững hơn.
Giải phóng nguồn lực
Bên cạnh những thành tựu, chuyên gia Phạm Chi Lan cho rằng, phía trước vẫn là chặng đường dài, nhiều gian nan. Trong cơ cấu GDP hiện nay, khu vực đầu tư nước ngoài vẫn đóng góp tỷ trọng lớn, trên 20%.

Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông quốc gia có bước phát triển mạnh mẽ, đồng bộ. (Trong ảnh: Cầu Hoàng Văn Thụ, Hải Phòng). Ảnh: Quốc Khánh - TTXVN.
Xa hơn, để hướng đến mục tiêu "vượt qua bẫy thu nhập trung bình", thăng hạng kinh tế, chuyên gia Phạm Chi Lan kỳ vọng từ Đại hội Đảng lần thứ XIV và giai đoạn tiếp theo sẽ tiếp tục có những cải cách thể chế mạnh mẽ, nhằm thay đổi căn bản mô hình và cách thức phát triển.
Theo bà, thời gian tới, cần tiếp tục đẩy mạnh đổi mới thể chế theo hướng Nhà nước kiến tạo, Chính phủ kiến tạo để xây dựng khuôn khổ và môi trường thuận lợi cho toàn xã hội cùng tham gia phát triển.
Trong đó, tất cả các vùng miền, các khu vực kinh tế, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân được tạo điều kiện để phát huy đầy đủ vai trò của mình.
"Thực tế, nhiều chủ trương đúng đã được ban hành, song vẫn tồn tại khoảng cách giữa nghị quyết và triển khai", chuyên gia nhìn nhận và cho rằng, một khi thể chế được cải cách thực sự, nguồn lực sẽ được giải phóng mạnh mẽ.
Hiện nay, Việt Nam có hàng nghìn doanh nghiệp đạt quy mô hàng trăm triệu USD. Lực lượng này nếu được tạo điều kiện phát triển đầy đủ, hoàn toàn có thể đảm nhận nhiều lĩnh vực mà hiện nay vẫn phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài hoặc nhập khẩu. Điều này phù hợp với tinh thần tự tin, tự lực, tự cường, yếu tố then chốt để nâng cao nội lực quốc gia.
Sau khi quyết tâm đổi mới đã được thể hiện rõ ở cấp lãnh đạo cao nhất, điều quan trọng là tinh thần đó phải được lan tỏa và cụ thể hóa ở tất cả các cấp trong bộ máy quản trị quốc gia, tháo gỡ thực chất các rào cản.
Cùng với cải cách thể chế, chủ trương phát triển khoa học - công nghệ được xác định là hướng đi đúng đắn và đang được cụ thể hóa bằng nhiều chính sách thiết thực.
Theo bà, phát triển công nghệ không chỉ dựa vào tiếp nhận từ bên ngoài mà còn cần khuyến khích các trường đại học, viện nghiên cứu và khu vực tư nhân cùng tham gia. Thông qua đó, năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu sẽ được nâng cao.
Khi môi trường trong nước đủ cởi mở, niềm tin được củng cố, nguồn lực của cộng đồng người Việt ở nước ngoài sẽ được thu hút mạnh mẽ hơn. Đây là một nguồn lực rất quý giá, có thể đóng góp trực tiếp và lâu dài cho sự phát triển đất nước.
Chưa kể, các quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng cũng mở ra nhiều cơ hội mới, như sự hợp tác giữa các tập đoàn hàng đầu thế giới với doanh nghiệp lớn của Việt Nam trong các dự án hạ tầng và công nghiệp chiến lược.
7 khuyến nghị của Liên hợp quốc
Cũng theo bà Pauline Tamesis, để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045 và đạt phát thải ròng bằng không vào năm 2050, Liên hợp quốc khuyến nghị 7 vấn đề then chốt.
Đó là đầu tư vào con người và thúc đẩy hòa nhập xã hội, nhằm bảo đảm mọi công dân, không phân biệt hoàn cảnh, đều có cơ hội phát triển.
Đồng thời, cần xây dựng nền kinh tế có năng suất cao dựa trên đổi mới sáng tạo và nâng cao kỹ năng.
Cùng đó, cần tận dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển bền vững.
Quá trình chuyển đổi xanh cần được đẩy nhanh, đồng thời bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương, song song với việc thúc đẩy năng lượng sạch, nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu.
Tăng cường quản trị và hoàn thiện hệ thống dữ liệu, nhằm bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng; huy động hiệu quả các nguồn tài chính trong nước, khu vực tư nhân và các cơ chế tài chính đổi mới để khai thông nguồn lực cho tăng trưởng bền vững.
"Chúng ta đều hiểu rằng, đây không chỉ là câu chuyện về chính sách, mà còn là tầm nhìn phát triển, bảo đảm quá trình phát triển của Việt Nam mang tính bao trùm, bền vững và có tính chuyển đổi sâu sắc", bà Pauline Tamesis nói và nhấn mạnh Liên hợp quốc cam kết tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong hành trình này thông qua Khung hợp tác Phát triển bền vững Liên hợp quốc - Việt Nam giai đoạn 2027 - 2031, phù hợp với các mục tiêu phát triển bền vững, khát vọng trở thành quốc gia có thu nhập cao và các mục tiêu khí hậu của Việt Nam.
Một số kết quả nổi bật năm 2025
- Tăng trưởng GDP đạt 8,02%, thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao của khu vực, thế giới.
- Quy mô GDP đạt hơn 514 tỷ USD. Kiểm soát lạm phát ở mức 3,31%. Thu ngân sách Nhà nước đạt kỷ lục, đến ngày 31/12/2025 đạt khoảng 2,65 triệu tỷ đồng, vượt dự toán tới 34,74% và tăng 30,3% so với cùng kỳ năm 2024.
- Tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam năm 2025 đạt 38,4 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 27,62 tỷ USD, nhiều nhất từ khi có vốn đầu tư nước ngoài.
- Quy mô thương mại quốc tế đạt kỷ lục hơn 930 tỷ USD năm 2025, thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới...