Giao thông

Cần cơ chế đặc thù để nâng chất lượng đào tạo nhân lực ngành Xây dựng - Giao thông

-

Để giải bài toán thiếu hụt nhân lực ngành Xây dựng - Giao thông, các chuyên gia cho rằng cần có cơ chế đặc thù, đổi mới đào tạo và tăng cường liên kết giữa nhà trường, doanh nghiệp, cơ quan quản lý, gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn.

Hợp tác đào tạo phải gắn với nhu cầu thực tế

Để giải bài toán thiếu hụt nhân lực ngành Xây dựng - Giao thông, cần có cơ chế, chính sách phù hợp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, tăng cường liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp, đồng thời đưa các bài toán thực tiễn vào chương trình giảng dạy. Đây là những giải pháp được các chuyên gia, nhà quản lý đề xuất tại tọa đàm "Hóa giải nguy cơ thiếu hụt nhân lực ngành Xây dựng: Cần cái 'bắt tay' của 'ba nhà'" diễn ra vào chiều qua (22/10). 

Cần cơ chế đặc thù để nâng chất lượng đào tạo nhân lực ngành Xây dựng - Giao thông - Ảnh 1.

PGS.TS. Nguyễn Hoàng Long, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ GTVT. 

Theo PGS.TS. Nguyễn Hoàng Long, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ GTVT, thời gian qua, các cơ sở đào tạo đã triển khai nhiều chính sách, chương trình nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng đào tạo, bên cạnh việc trang bị kiến thức cho sinh viên, cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và tạo điều kiện để người học tiếp cận những vấn đề thực tế của ngành.

Ông Long cho rằng, doanh nghiệp và các đơn vị chức năng cần chia sẻ thông tin về chương trình, dự án, sản phẩm thực tế để nhà trường đưa vào giảng dạy. Qua đó, sinh viên có cơ hội tiếp cận các bài toán kỹ thuật, công nghệ và quản lý ngay trong quá trình học tập, thay vì chủ yếu tiếp thu kiến thức lý thuyết.

Cùng với đó, cơ chế đào tạo cần hướng tới xây dựng đội ngũ nhân lực có nền tảng kiến thức vững chắc, kỹ năng linh hoạt và khả năng thích ứng với yêu cầu công việc ở nhiều lĩnh vực. Đây là yếu tố quan trọng giúp người lao động đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động, nhất là trong bối cảnh ngành Xây dựng - Giao thông đang đứng trước yêu cầu đổi mới công nghệ và triển khai nhiều dự án quy mô lớn.

Từ góc độ doanh nghiệp, PGS.TS. Trần Chủng chia sẻ những khó khăn mà các nhà thầu xây dựng đang phải đối mặt, đồng thời đề nghị Nhà nước tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các cơ chế, chính sách phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.

Theo các chuyên gia, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không thể chỉ trông chờ vào nỗ lực của các cơ sở đào tạo. Quá trình này cần sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan quản lý nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp, từ xác định nhu cầu, xây dựng chương trình đào tạo đến tổ chức thực hành, thực tập và tuyển dụng.

Cần cơ chế đặc thù để nâng chất lượng đào tạo nhân lực ngành Xây dựng - Giao thông - Ảnh 2.

Cần cơ chế đặc thù để nâng chất lượng đào tạo nhân lực. 

Đưa bài toán thực tế vào đào tạo nhân lực đường sắt

Một trong những lĩnh vực đặt ra yêu cầu cấp thiết về chuẩn bị nhân lực là đường sắt, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam triển khai các dự án đường sắt quy mô lớn, trong đó có đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam.

Chia sẻ tại tọa đàm, ông Lê Hữu Cầu, Trưởng phòng Khoa học công nghệ, Ban Quản lý dự án Thăng Long, cho biết ngay từ khi có chủ trương đầu tư dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, Ban đã chủ động phối hợp với các cơ sở đào tạo để chuẩn bị nguồn nhân lực phục vụ dự án.

Ban đã tham mưu lãnh đạo ký kết hợp tác với nhiều trường đại học, học viện như Trường Đại học Giao thông vận tải tại Hà Nội và TP.HCM, Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải, Học viện Chiến lược, Bồi dưỡng cán bộ xây dựng.

Theo ông Cầu, điểm quan trọng là hoạt động hợp tác phải được cụ thể hóa bằng những công việc thiết thực, gắn với nhu cầu sử dụng lao động. Thời gian qua, các bên đã phối hợp giới thiệu, bồi dưỡng những môn học mới cho giảng viên, sinh viên; tham gia xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; huy động các phòng thí nghiệm trọng điểm của nhà trường giải quyết những bài toán kỹ thuật tại dự án.

Song song với việc chuẩn bị nguồn nhân lực mới, Ban Quản lý dự án Thăng Long chú trọng đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ hiện có. Đến nay, Ban đã có 17 kỹ sư tốt nghiệp đại học chuyên ngành đường sắt, cử 5 cán bộ tham gia chương trình đào tạo văn bằng hai và có 35 kỹ sư đang theo học văn bằng hai ngành đường sắt.

Thời gian tới, Ban sẽ tiếp tục cử những cán bộ chưa có chuyên môn về đường sắt, bao gồm cả nhân sự hiện có và người mới tuyển dụng, tham gia đào tạo tại các cơ sở giáo dục đại học phù hợp.

Đáng chú ý, trong Đề án đào tạo nhân sự phục vụ dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, Ban dự kiến cụ thể hóa nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng khoảng 700 - 900 cán bộ quản lý dự án theo các chương trình chuẩn hóa.

Cùng với đó, việc trao đổi kiến thức giữa đơn vị sử dụng lao động và cơ sở đào tạo được triển khai theo hai chiều. Ban chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn về quản lý dự án, quản lý hợp đồng, thể chế và pháp lý; trong khi các trường tổ chức những khóa bồi dưỡng ngắn hạn về khoa học công nghệ, chuyển đổi số, mô hình thông tin công trình (BIM), hệ thống thông tin địa lý (GIS) nhằm giúp cán bộ cập nhật kiến thức, nâng cao năng lực chuyên môn.

Ban cũng sẽ phối hợp với các trường tổ chức thực tập tại dự án, tạo điều kiện để sinh viên tiếp cận thực tế về thể chế, quản lý hợp đồng và pháp lý ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Qua đó, sinh viên có thêm kinh nghiệm, hiểu rõ hơn yêu cầu công việc và chuẩn bị tốt hơn trước khi tham gia các dự án sau khi tốt nghiệp.

Cần "6 rõ" để kết nối nhà trường - doanh nghiệp

Đề cập đến những hạn chế trong liên kết đào tạo, PGS.TS. Nguyễn Hoàng Long thẳng thắn nhìn nhận, trước đây, quan hệ hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp chưa thực sự chặt chẽ. Hoạt động đào tạo đôi khi vẫn tập trung vào những gì nhà trường sẵn có, trong khi việc trao đổi, cập nhật nhu cầu thực tế của thị trường lao động chưa được thực hiện thường xuyên.

Trong khi đó, doanh nghiệp phải giải quyết đồng thời nhu cầu tuyển dụng mới để đáp ứng tiến độ triển khai dự án và bổ sung nhân sự thay thế những người nghỉ việc, chuyển việc, qua đó hạn chế tình trạng "chảy máu chất xám".

Theo ông Long, để tháo gỡ điểm nghẽn này, hai bên cần thay đổi cách tiếp cận, chuyển từ hợp tác mang tính hình thức sang phối hợp dựa trên nhu cầu thực chất. Các chương trình liên kết phải có chỉ tiêu, tiêu chuẩn và nhiệm vụ cụ thể, được triển khai theo nguyên tắc "6 rõ": Rõ việc, rõ người, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.

Chẳng hạn, doanh nghiệp cần xác định rõ nhu cầu tuyển dụng về số lượng và chuyên môn, từ kỹ sư cầu đường đến nhân sự khảo sát, thiết kế, địa kỹ thuật, BIM hay quản lý thi công. Trên cơ sở đó, nhà trường và doanh nghiệp cùng rà soát, điều chỉnh chương trình đào tạo, bảo đảm kiến thức, kỹ năng của sinh viên phù hợp với yêu cầu thực tế.

Bên cạnh đổi mới chương trình giảng dạy, doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo thông qua việc cử chuyên gia hướng dẫn sinh viên thực hành, thực tập tại công trường. Chính sách tiền lương, đãi ngộ, điều kiện làm việc và môi trường văn hóa doanh nghiệp cũng cần được quan tâm để thu hút, giữ chân người lao động, đồng thời tạo sức hấp dẫn đối với sinh viên mới tốt nghiệp.

Thực tế, mô hình đưa sinh viên đến tham quan, trải nghiệm và thực tập tại công trường của Tập đoàn Đèo Cả đã cho thấy những kết quả tích cực. Việc doanh nghiệp chủ động bố trí điều kiện ăn ở, sinh hoạt và tạo môi trường trải nghiệm giúp sinh viên tiếp cận công việc thực tế, từng bước hình dung rõ hơn về nghề nghiệp tương lai.

Về phía cơ sở đào tạo, Trường Đại học Công nghệ GTVT sẽ tiếp tục nâng cao chất lượng giảng dạy, gắn quá trình học tập với trải nghiệm thực tiễn, đồng thời theo dõi, đánh giá kết quả thực tập của sinh viên theo chương trình đã thống nhất với doanh nghiệp.

Nhà trường cũng định hướng xây dựng các bộ phận chuyên trách tư vấn, kết nối doanh nghiệp nhằm xác định nhu cầu nhân lực của từng đơn vị, thiết kế phương thức hợp tác phù hợp, đồng thời chủ động xây dựng kế hoạch tuyển sinh và đào tạo sát với nhu cầu thị trường.

Từ những giải pháp trên, các đại biểu cho rằng, để giải quyết bài toán nhân lực ngành Xây dựng - Giao thông, cần kết hợp cơ chế, chính sách phù hợp với đổi mới đào tạo và nâng cao trách nhiệm của các bên. Khi cơ quan quản lý, nhà trường và doanh nghiệp cùng tham gia ngay từ khâu xác định nhu cầu đến đào tạo, thực hành và tuyển dụng, nguồn nhân lực được đào tạo sẽ sát thực tiễn hơn, góp phần đáp ứng yêu cầu triển khai các dự án hạ tầng trong thời gian tới.