Đề xuất bỏ kiểm tra định kỳ phương tiện đường sắt đô thị, tăng hậu kiểm
Bộ Xây dựng đề xuất đưa toa xe đường sắt đô thị đã qua sử dụng ra khỏi diện kiểm tra định kỳ. Thay cho cơ chế tiền kiểm, việc bảo đảm an toàn sẽ được tăng cường thông qua hệ thống quản lý an toàn và cơ chế hậu kiểm.
Nhiều bất cập khi kiểm tra định kỳ
Bộ Xây dựng đang lấy ý kiến dự thảo QCVN sửa đổi 1:2026 QCVN 23:2025/BXD về phương tiện giao thông đường sắt trong kiểm tra định kỳ, hoán cải, nhập khẩu đã qua sử dụng.

Theo Cục Đăng kiểm, việc duy trì kiểm tra định kỳ phương tiện đường sắt đô thị hiện nay phát sinh nhiều bất cập, trong khi không làm gia tăng đáng kể mức độ an toàn (ảnh minh hoạ).
Theo thuyết minh sửa đổi Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) về phương tiện giao thông đường sắt trong kiểm tra định kỳ, hoán cải, nhập khẩu đã qua sử dụng, Cục Đăng kiểm VN cho biết, QCVN 23:2025/BXD hiện hành đưa toa xe đường sắt đô thị vào phạm vi kiểm tra định kỳ. Kể từ khi QCVN này có hiệu lực, tổ chức kiểm tra đã thực hiện kiểm tra định kỳ đối với 48 phương tiện đường sắt đô thị.
Tuy nhiên, Cục Đăng kiểm Việt Nam cho rằng, phương tiện đường sắt đô thị đã được chứng nhận an toàn hệ thống trước khi đưa vào khai thác. Doanh nghiệp vận hành cũng phải duy trì hệ thống quản lý an toàn liên tục theo quy định của Luật Đường sắt số 95/2025/QH15. Đây là những lớp kiểm soát an toàn độc lập và đầy đủ hơn so với kiểm tra định kỳ của cơ quan đăng kiểm.
Bên cạnh đó, đoàn tàu đường sắt đô thị có cấu hình cố định, được bảo trì nhiều cấp tại depot theo quy trình của nhà sản xuất, với đội ngũ nhân lực được đào tạo chuyên sâu và hệ thống trang thiết bị đồng bộ theo tiêu chuẩn của dự án.
Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy cơ quan quản lý nhà nước không thực hiện kiểm tra định kỳ đối với từng phương tiện đường sắt. Tại Liên minh châu Âu, công tác bảo đảm an toàn phương tiện được quản lý thông qua cơ chế đơn vị chịu trách nhiệm bảo trì (ECM); tại Hoa Kỳ, việc quản lý được thực hiện thông qua hệ thống quản lý an toàn của đơn vị khai thác. Cơ quan quản lý nhà nước chủ yếu kiểm soát thông qua hệ thống quản lý an toàn và công tác hậu kiểm.
Từ thực tế trên, Cục Đăng kiểm Việt Nam nhận định, việc duy trì kiểm tra định kỳ đối với phương tiện đường sắt đô thị có thể tạo thêm một lớp kiểm soát trùng lặp, làm phát sinh thời gian phương tiện phải dừng khai thác và tăng công sức cho doanh nghiệp, trong khi không làm gia tăng đáng kể mức độ an toàn.

Bộ Xây dựng đề xuất bỏ kiểm tra định kỳ đối với toa xe đường sắt đô thị, thay bằng cơ chế hậu kiểm (ảnh minh hoạ).
Bỏ tiền kiểm, tăng cường hậu kiểm
Tại dự thảo QCVN sửa đổi 1:2026 QCVN 23:2025/BXD, Bộ Xây dựng đề xuất bỏ kiểm tra định kỳ, hoán cải, nhập khẩu đối với toa xe đường sắt đô thị và phương tiện chuyên dùng vận hành trên đường sắt đô thị đã qua sử dụng.
Cùng với đó, dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 33/2025/TT-BXD sẽ thiết lập cơ chế kiểm soát với đầy đủ 3 yếu tố gồm: tiêu chuẩn và quy trình bảo dưỡng, sửa chữa do chủ sở hữu phương tiện công bố áp dụng; hồ sơ bảo dưỡng, sửa chữa được lưu giữ và xuất trình khi có yêu cầu; thẩm quyền và công cụ kiểm tra của cơ quan nhà nước gồm kế hoạch kiểm tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất.
Theo Cục Đăng kiểm Việt Nam, việc đưa phương tiện đường sắt đô thị ra khỏi diện kiểm tra định kỳ sẽ giúp doanh nghiệp không phải rút phương tiện khỏi biểu đồ vận hành để phục vụ kiểm tra, qua đó duy trì tính liên tục của dịch vụ vận tải công cộng và chủ động hơn trong việc xây dựng kế hoạch bảo trì tại depot. Đồng thời, cơ quan quản lý nhà nước có thể giảm khối lượng kiểm tra trực tiếp, tập trung nguồn lực cho hậu kiểm.
Cục Đăng kiểm VN đánh giá, việc bỏ kiểm tra định kỳ không đồng nghĩa với giảm yêu cầu an toàn. Phương tiện vẫn chịu sự kiểm soát thông qua chứng nhận an toàn hệ thống, hệ thống quản lý an toàn của doanh nghiệp và quy trình bảo trì nhiều cấp của nhà sản xuất.
Về phía doanh nghiệp, quy định mới yêu cầu duy trì đầy đủ hồ sơ bảo dưỡng, sửa chữa để phục vụ hậu kiểm. Tuy nhiên, đây vốn là công việc doanh nghiệp đang thực hiện theo quy trình bảo trì nên chi phí phát sinh được đánh giá là gần như không tăng thêm.
Việc sửa đổi quy định cũng nhằm cụ thể hóa chủ trương chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát; đồng thời thực hiện yêu cầu từ bỏ tư duy "không quản được thì cấm" và mục tiêu cắt giảm thời gian, chi phí tuân thủ thủ tục hành chính tại các Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 66-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 66/NQ-CP của Chính phủ và Kết luận số 18-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương.