Đề xuất chuẩn hoá cơ sở bảo hành, bảo dưỡng xe cơ giới: Nâng chất lượng, đảm bảo an toàn
Bộ Xây dựng đang lấy ý kiến góp ý dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở bảo hành, bảo dưỡng xe cơ giới, thay thế QCVN 121:2024 với nhiều điểm mới nhằm chuẩn hóa chất lượng, mang đến dịch vụ tốt hơn cho người dân.
Chuẩn hóa cơ sở vật chất, thiết bị theo từng loại xe
So với quy định hiện hành, dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở bảo hành, bảo dưỡng xe cơ giới sửa đổi theo hướng cụ thể hóa các yêu cầu kỹ thuật đối với từng loại phương tiện.

Bộ Xây dựng đề xuất sửa Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở bảo hành, bảo dưỡng xe cơ giới với nhiều quy định mới về yêu cầu kỹ thuật, nhân lực và quản lý. (Ảnh minh hoạ).
Theo đó, các khu vực như mặt bằng tổng thể, nhà xưởng, khu vực tiếp nhận, bàn giao, bảo hành - bảo dưỡng, thân vỏ, sơn, kiểm tra xuất xưởng, nhà điều hành và kho phụ tùng phải đáp ứng số lượng, kích thước tối thiểu của từng vị trí làm việc, phù hợp với loại phương tiện.
Danh mục dụng cụ, trang thiết bị tối thiểu phục vụ bảo hành, bảo dưỡng cũng được quy định theo từng loại xe. Các thiết bị gồm cầu nâng, bàn nâng, hầm kiểm tra, thiết bị thu hồi và bơm dầu, thiết bị bơm mỡ, dụng cụ chuyên dùng, đồng hồ đo điện, thiết bị sạc ắc quy, thiết bị kiểm tra hệ thống nhiên liệu, thiết bị điều hòa, thiết bị chẩn đoán, thiết bị đo độ chụm, máy nén khí cùng các thiết bị phục vụ công việc thân vỏ và sơn.
Đáng chú ý, dự thảo bổ sung và làm rõ các yêu cầu an toàn đối với xe điện, xe hybrid điện. Các cơ sở bảo hành, bảo dưỡng phải trang bị thiết bị, dụng cụ bảo vệ an toàn cách điện; đồng hồ kiểm tra dòng điện và điện áp cao; thiết bị, dụng cụ nâng, hạ, di chuyển và sạc pin theo yêu cầu của nhà sản xuất.
Đối với thiết bị kiểm tra xuất xưởng, dự thảo yêu cầu có thiết bị kiểm tra độ trượt ngang, góc đặt bánh xe, góc quay lái, lực phanh, đèn chiếu sáng phía trước và khí thải, phù hợp với loại xe được bảo hành, bảo dưỡng. Các cơ sở cũng phải đáp ứng yêu cầu về thiết bị kiểm tra và phân tích khí thải động cơ cưỡng bức.
Riêng cơ sở bảo hành, bảo dưỡng mô tô, xe gắn máy được miễn một số yêu cầu về thiết bị kiểm tra xuất xưởng, song vẫn phải có thiết bị kiểm tra khí thải.
Dự thảo đồng thời điều chỉnh kích thước khu vực tiếp nhận và bàn giao đối với mô tô, xe gắn máy từ 2m x 3m xuống còn 1,5m x 2m; đồng thời duy trì yêu cầu về chiều cao không gian và lối đi phù hợp với loại xe.
Bổ sung yêu cầu về nhân lực, quy trình và quản lý hồ sơ
Một điểm mới đáng chú ý là dự thảo bổ sung riêng một chương quy định các yêu cầu cơ bản về nhân lực thực hiện công việc tại cơ sở bảo hành, bảo dưỡng xe, cùng việc quản lý quá trình thực hiện công việc, quản lý thông tin và bảo đảm chất lượng dịch vụ.
Theo đề xuất, mỗi cơ sở phải có ít nhất một người phụ trách kỹ thuật được đào tạo về kỹ thuật bảo hành, bảo dưỡng và có tối thiểu 5 năm kinh nghiệm, tính từ thời điểm hoàn thành khóa đào tạo liên quan đầu tiên.
Tại mỗi vị trí bảo hành, bảo dưỡng, thân vỏ, sơn và kiểm tra xuất xưởng phải có tối thiểu một kỹ thuật viên theo quy định. Kỹ thuật viên kiểm tra xuất xưởng có thể đồng thời đảm nhiệm vị trí kỹ thuật viên bảo hành, bảo dưỡng hoặc là người phụ trách kỹ thuật.
Đặc biệt, kỹ thuật viên kiểm tra xuất xưởng phải nắm vững các quy định về an toàn kỹ thuật, bảo vệ môi trường và sử dụng thành thạo các thiết bị kiểm tra.
Dự thảo cũng yêu cầu kỹ thuật viên phải được đào tạo, tập huấn nghiệp vụ phù hợp với vị trí công việc. Đối với người làm việc với xe điện, xe hybrid điện, phải được đào tạo về an toàn điện theo quy định của nhà sản xuất. Kỹ thuật viên chạy thử xe phải có giấy phép lái xe phù hợp và còn hiệu lực.
Cùng với yêu cầu về nhân lực, cơ sở phải xây dựng quy trình dịch vụ, quy trình kiểm tra xuất xưởng và các biểu mẫu theo yêu cầu của nhà sản xuất; đồng thời có cam kết bảo hành đối với các hạng mục bảo dưỡng, sửa chữa và phụ tùng thay thế do cơ sở cung cấp.
Việc quản lý hồ sơ phương tiện cũng được siết chặt. Cơ sở phải thiết lập và duy trì hệ thống lưu trữ thông tin, tối thiểu gồm biển số xe (nếu có), số khung/VIN, ngày vào xưởng, ngày ra xưởng và nội dung công việc. Hồ sơ giấy phải được lưu tối thiểu 12 tháng, đồng thời phải có phương án lưu dữ liệu để truy xuất trước khi hủy.

Với số lượng khoảng hơn 2.600 cơ sở bảo hành, bảo dưỡng xe cơ giới toàn quốc, Cục Đăng kiểm VN đánh giá quy định mới có tác động không nhỏ khi triển khai thực tế. (Ảnh minh hoạ).
Kiến nghị lộ trình phù hợp, tránh dồn ứ thủ tục
Theo Cục Đăng kiểm Việt Nam - cơ quan chủ trì soạn thảo dự thảo quy chuẩn, việc ban hành quy định mới sẽ góp phần chuẩn hóa cơ sở bảo hành, bảo dưỡng đối với các loại xe cơ giới, qua đó nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ người dân.
Mặt khác, các yêu cầu mới cũng nhằm bảo đảm chất lượng phương tiện sau bảo hành, bảo dưỡng, sửa chữa; hạn chế các lỗi kỹ thuật và góp phần nâng cao an toàn phương tiện khi tham gia giao thông.
Tuy nhiên, một vấn đề được đặt ra là dự thảo quy định các cơ sở phải thực hiện thủ tục công bố hợp quy. Đây là yêu cầu mới, có thể tạo áp lực đáng kể đối với các cơ sở, nhất là cơ sở bảo hành, bảo dưỡng mô tô, xe gắn máy tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo.
Việc phát sinh thêm thủ tục đồng nghĩa với việc các cơ sở phải bố trí thêm thời gian, nhân lực và nguồn lực để thực hiện. Trong khi đó, cơ quan quản lý và các tổ chức đánh giá sự phù hợp cũng phải chuẩn bị nguồn lực để đáp ứng khối lượng công việc lớn.
Theo thống kê sơ bộ, cả nước hiện có hơn 600 cơ sở bảo hành, bảo dưỡng ô tô và khoảng 2.000 cơ sở bảo hành, bảo dưỡng mô tô, xe gắn máy được các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu xe công bố. Trong đó, riêng Honda có gần 800 cơ sở, Yamaha khoảng 550 cơ sở và VMEP khoảng 275 cơ sở.
Con số này chưa bao gồm các cơ sở bảo hành, bảo dưỡng rơ-moóc, sơ-mi rơ-moóc và xe bốn bánh có gắn động cơ.
Đáng lưu ý, các cơ sở bảo hành, bảo dưỡng mô tô, xe gắn máy phân bố rộng khắp cả nước, từ khu vực đô thị đến nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo và được dự báo tiếp tục gia tăng.
Với khoảng 2.600 cơ sở, nếu chỉ tính thời gian thực hiện đánh giá, chứng nhận và công bố hợp quy cho mỗi cơ sở mất một ngày thì tổng thời gian đã lên tới 2.600 ngày làm việc.
Trong điều kiện một năm có khoảng 300 ngày làm việc và công suất thực hiện đạt 8-9 cơ sở/ngày, cần khoảng một năm để hoàn thành số lượng cơ sở hiện có. Tuy nhiên, nếu tính cả thời gian di chuyển, khắc phục các vấn đề phát sinh, thời gian dự phòng cho hoạt động cung cấp dịch vụ công và thực hiện thủ tục công bố hợp quy, thời gian thực tế cho mỗi cơ sở có thể lên tới 3 - 5 ngày làm việc hoặc lâu hơn.
Khi đó, với công suất 8 - 9 cơ sở/ngày, việc hoàn thành công bố hợp quy cho toàn bộ số cơ sở hiện có có thể mất từ 3 - 5 năm hoặc lâu hơn, chưa kể các cơ sở mới phát sinh và các cơ sở bảo hành, bảo dưỡng rơ-moóc, sơ-mi rơ-moóc, xe bốn bánh có gắn động cơ.
Một khó khăn khác là hiện gần như chưa có tổ chức chứng nhận sự phù hợp được đăng ký và xác nhận lĩnh vực hoạt động chứng nhận phù hợp đối với cơ sở bảo hành, bảo dưỡng xe cơ giới. Số lượng tổ chức được Bộ Xây dựng xác nhận cũng còn rất ít.
Bên cạnh đó, các cơ quan chuyên môn tại địa phương hoặc cơ quan được giao tiếp nhận hồ sơ công bố hợp quy cũng cần thời gian chuẩn bị nhân lực, vật lực và các điều kiện cần thiết để triển khai khi hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng gặp sự cố hoặc chưa hoàn thiện hạ tầng.
Như vậy, việc tổ chức chứng nhận sự phù hợp và công bố hợp quy cho số lượng lớn cơ sở phân bố rộng khắp cả nước sẽ là thách thức không nhỏ đối với cả cơ quan quản lý và các tổ chức đánh giá sự phù hợp.
Trước những khó khăn trên, Cục Đăng kiểm Việt Nam kiến nghị cho phép các cơ sở bảo hành, bảo dưỡng ô tô đã được doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu ô tô công bố là cơ sở bảo hành, bảo dưỡng trước ngày Quy chuẩn có hiệu lực được đáp ứng các yêu cầu của Quy chuẩn từ ngày 1/1/2028.
Đối với cơ sở bảo hành, bảo dưỡng mô tô, xe gắn máy đã thực hiện bảo hành, bảo dưỡng theo ủy quyền, chỉ định hoặc công bố của doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu xe trước ngày Quy chuẩn có hiệu lực, Cục này đề xuất áp dụng các yêu cầu của Quy chuẩn từ ngày 1/1/2027.
Việc lùi thời hạn bắt buộc thực hiện được đề xuất nhằm tạo thời gian để các cơ sở, cơ quan quản lý, tổ chức đánh giá sự phù hợp và cơ quan tiếp nhận hồ sơ công bố hợp quy chuẩn bị đầy đủ nhân lực, vật lực và các điều kiện cần thiết.
Theo Cục Đăng kiểm Việt Nam, cách tiếp cận này sẽ giúp quá trình triển khai được thực hiện từng bước, hạn chế tình trạng dồn ứ, tắc nghẽn khi phải đồng thời đánh giá, chứng nhận và công bố hợp quy cho hàng nghìn cơ sở.
Đối với các cơ sở bảo hành, bảo dưỡng mô tô, xe gắn máy, việc điều chỉnh thời điểm hiệu lực sớm hơn so với quy định tại QCVN 121:2024/BGTVT được cho là nhằm chủ động chuẩn bị cơ sở hạ tầng cho lộ trình kiểm soát khí thải mô tô, xe gắn máy lưu hành của Chính phủ.
Dự thảo cũng quy định chuyển tiếp đối với các cơ sở đã được chứng nhận phù hợp QCVN 121:2024/BGTVT. Theo đó, các cơ sở này không phải thực hiện chứng nhận lại và công bố hợp quy cho đến hết thời hạn ghi trên giấy chứng nhận đã được cấp.