Hàng hải

Định vị Cần Giờ là “cảng 5 sao”, không cạnh tranh Cái Mép - Thị Vải

-

Không đặt mục tiêu cạnh tranh nội vùng, Cảng Cần Giờ được định vị là “cảng 5 sao”, hướng tới thu hút hàng trung chuyển quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống cảng biển Việt Nam.

VIMC góp gần 7.000 tỷ đồng làm siêu cảng Cần Giờ

Tại Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 tổ chức ngày 15/4, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (VIMC) đã thông qua các kế hoạch đầu tư và góp vốn vào các dự án trọng điểm trong năm 2026.

Định vị Cần Giờ là “cảng 5 sao”, không cạnh tranh Cái Mép - Thị Vải- Ảnh 1.

Theo ông Nguyễn Cảnh Tĩnh, Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Hàng hải VN, Cảng Cần Giờ sẽ không xung đột với các cảng khác trong khu vực.

Một trong những nội dung đáng chú ý là kế hoạch góp vốn thành lập liên doanh triển khai dự án Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ tại huyện Cần Giờ, TP.HCM.

Theo ông Nguyễn Cảnh Tĩnh, Chủ tịch HĐQT VIMC, Cảng Cần Giờ sẽ không xung đột với các cảng khác trong khu vực.

Theo phương án góp vốn, phía Việt Nam nắm 51% vốn điều lệ, trong đó VIMC góp 36% (khoảng 6.959 tỷ đồng), Cảng Sài Gòn góp 15% (khoảng 2.900 tỷ đồng); đối tác nước ngoài (TiL) nắm 49% vốn điều lệ. Việc góp vốn sẽ được phân kỳ theo từng năm nhằm bảo đảm nguồn lực tài chính cho liên doanh.

Dự án Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ (tại cù lao Gò Con Chó, xã Thạnh An, TP.HCM) nhằm xây dựng và phát triển cảng trung chuyển quốc tế, bao gồm dịch vụ khai thác cảng container và các dịch vụ liên quan.

Quy mô đầu tư đề xuất cho phép tiếp nhận tàu mẹ có trọng tải lên đến 250.000 DWT, với tổng chiều dài cầu cảng chính khoảng 7,2km. Công suất thiết kế đạt khoảng 16,9 triệu TEU/năm.

Tổng nhu cầu sử dụng đất của dự án khoảng 571ha, tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 128.872 tỷ đồng.

Dự án được triển khai theo hai giai đoạn. Giai đoạn I (đến năm 2030) hoàn thành đầu tư ít nhất hai cầu cảng. Giai đoạn II (đến năm 2050) hoàn thiện các hạng mục còn lại theo tiến độ mục tiêu hoạt động. Thời gian hoàn thành toàn bộ dự án dự kiến trong vòng 20 năm kể từ khi được bàn giao đất và mặt nước.

Nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của dự án đối với phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hoàn thiện hệ thống logistics, ông Lê Anh Sơn, Tổng giám đốc VIMC cho rằng việc VIMC và Cảng Sài Gòn tham gia liên doanh với đối tác chiến lược MSC/TiL là phù hợp với định hướng phát triển kinh tế biển và chiến lược đầu tư cảng nước sâu.

Do đây là dự án lớn, trọng điểm, VIMC sẽ cân đối cơ cấu vốn đầu tư phù hợp với khả năng huy động nguồn lực nhằm bảo đảm hiệu quả, đồng thời bảo toàn và phát triển vốn.

Tại đại hội, nhiều cổ đông bày tỏ quan tâm đến hiệu quả và khả năng cạnh tranh của dự án. Trả lời vấn đề này, ông Lê Anh Sơn khẳng định, Cảng Cần Giờ được định hướng trở thành trung tâm trung chuyển quốc tế, cạnh tranh với các cảng quốc tế, không cạnh tranh trực tiếp với các cảng tại khu vực Cái Mép - Thị Vải.

“Các hãng tàu lựa chọn cảng dựa trên các tiêu chí như an toàn, hiệu quả, mức độ xanh hóa, năng suất và chi phí hợp lý. Mục tiêu là xây dựng Cảng Cần Giờ trở thành ‘cảng 5 sao’ với năng lực cạnh tranh cao”, ông Sơn nhấn mạnh.

Theo lãnh đạo VIMC, Cảng Cần Giờ sẽ được phát triển theo hướng cảng xanh, chi phí hợp lý và năng lực cạnh tranh cao.

Ông Nguyễn Cảnh Tĩnh cũng cho biết, trong bối cảnh sản lượng hàng hóa qua cảng biển Việt Nam tiếp tục tăng, việc đầu tư thêm các cảng tại khu vực trọng điểm là xu hướng tất yếu, nhằm đón đầu sự dịch chuyển từ cảng sông sang cảng nước sâu và phục vụ tàu lớn.

“Nếu Cảng Cần Giờ đi vào hoạt động, một lượng hàng trung chuyển trong khu vực sẽ được thu hút về, không gây xung đột với các cảng hiện hữu”, ông Tĩnh nói.

Bên cạnh dự án Cảng Cần Giờ, VIMC cũng dự kiến đầu tư vào các dự án hạ tầng chiến lược và dịch vụ mới, như góp vốn phát triển vận tải hàng hóa bằng đường hàng không; nghiên cứu mua lại một nhà máy đóng mới hoặc sửa chữa tàu để phục vụ phát triển đội tàu và dịch vụ kỹ thuật.

Định vị Cần Giờ là “cảng 5 sao”, không cạnh tranh Cái Mép - Thị Vải- Ảnh 2.

Tổng giám đốc VIMC Lê Anh Sơn cho biết, Cảng Cần Giờ sẽ được đặt mục tiêu xây dựng theo hướng cảng xanh, chi phí hợp lý, năng lực cạnh tranh cao.


Kỳ vọng lợi nhuận hơn 2.500 tỷ giữa áp lực chi phí

Báo cáo tại đại hội, ông Lê Anh Sơn cho biết tình hình thế giới dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, với tăng trưởng kinh tế toàn cầu có thể giảm xuống còn 2,9% trong năm 2026, trong bối cảnh rủi ro lạm phát, căng thẳng thương mại và bất ổn chính sách thuế quan gia tăng.

Trong nước, Quốc hội đã thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 với mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên.

Theo ông Sơn, xung đột tại Trung Đông thời gian qua đã khiến giá nhiên liệu tăng mạnh, gây áp lực lớn lên chi phí khai thác đội tàu. Dự báo xu hướng tăng này có thể tiếp diễn trong quý II.

“Nếu giá nhiên liệu không giảm về mức trước xung đột, đây sẽ là rủi ro rất lớn đối với hoạt động của VIMC”, ông Sơn nhận định.

Để ứng phó, VIMC đang triển khai các giải pháp như điều chỉnh tuyến vận tải, tìm kiếm hợp đồng hiệu quả hơn, linh hoạt giữa khai thác và cho thuê tàu, đồng thời kiểm soát chi phí.

Theo phân tích, chi phí nhiên liệu hiện chiếm khoảng 20-30% chi phí khai thác tàu biển. Khi giá dầu tăng mạnh, hiệu quả kinh doanh bị ảnh hưởng nếu giá cước chưa kịp điều chỉnh. Tác động này đặc biệt lớn đối với các tuyến vận tải dài và các hợp đồng chưa có cơ chế bù giá nhiên liệu.

Ngoài ra, các loại chi phí như bảo hiểm chiến tranh, phụ phí rủi ro, an ninh và chi phí chuyển hướng hành trình cũng gia tăng.

Các doanh nghiệp dịch vụ cảng biển và logistics cũng chịu áp lực khi chi phí nhiên liệu tăng 40-51%, kéo theo chi phí vận tải và chuỗi dịch vụ tăng cao. Nhiều khách hàng xuất nhập khẩu có xu hướng giãn tiến độ, tối ưu chuỗi cung ứng, dẫn đến sản lượng giảm.

Một số đơn vị của VIMC ghi nhận khách hàng lớn giảm hoặc tạm ngừng nhập hàng trong thời gian ngắn; hàng hóa bị ùn ứ tại cảng do chưa thống nhất được mức giá dịch vụ mới.

Thận trọng trước biến động thị trường, năm 2026 VIMC đặt mục tiêu sản lượng vận tải biển đạt 23,78 triệu tấn, sản lượng hàng thông qua cảng đạt 180,1 triệu tấn. Doanh thu hợp nhất dự kiến đạt 22.186 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế khoảng 2.589 tỷ đồng. Riêng công ty mẹ đặt mục tiêu doanh thu hơn 6.400 tỷ đồng.

Doanh nghiệp cũng cho biết sẽ tìm kiếm cơ hội nâng cấp đội tàu nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn giảm phát thải của IMO.